|
| |
| Mô hình trung tâm hợp tác nghiên cứu giữa đại học và doanh nghiệp |
Tóm tắt: Mối quan hệ mật thiết giữa một cơ sở đào tạo và các doanh nghiệp sản xuất tạo nên nhiều thuận lợi cho việc nghiên cứu ứng dụng cải tiến và chế tạo thiết bị. Trong giai đoạn hiện nay, nhiều mô hình hợp tác nghiên cứu đã hình thành ở nhiều trường đại học trên thế giới. Trong các mô hình hợp tác nghiên cứu chúng ta có thể kể đến mô hình Viện nghiên cứu tư nhân, Viện hợp tác nghiên cứu với doanh nghiệp trực thuộc một đại học, Trung tâm hợp tác nghiên cứu… |
| Mô hình trung tâm hợp tác nghiên cứu giữa đại học và doanh nghiệp | |
| (C) 2005-2007 Hải Âu: kamome.seagull@gmail.com | |
Tóm tắt: (tiếp) Mô hình viện hay trung tâm hợp tác nghiên cứu đã xuất hiện ở các nước phát triển từ nhiều năm trước. Mục đích chính của viện hợp tác nghiên cứu ở một đại học là tạo ra cầu nối giữa cơ sở đào tạo và các nhà doanh nghiệp nhằm xúc tiến nâng cao hiệu quả việc nghiên cứu ứng dụng khoa học kĩ thuật trong việc cải tiến và chế tạo ra sản phẩm mới, tư vấn kĩ thuật cho các doanh nghiệp và nhà sử dựng, hợp tác đào tạo nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp. Mô hình này cũng giải quyết được việc thiếu các nguồn vốn cho các dự án nghiên cứu tiền khả thi và khả thi, đồng thời tạo cơ hội cho nhiều tài năng trẻ tham gia vào quá trình nghiên cứu ứng dụng khoa học kĩ thuật. Trong bài báo này, người viết xin trình bày tóm tắt hoạt động của Trung tâm hợp tác nghiên cứu với các nhà doanh nghiệp của Đại học Hải dương Tokyo. Qua đó người viết sẽ đề xuất một số công việc triển khai cho Viện Khoa học Công nghệ Hàng hải mà Trường Đại học Hàng hải Việt Nam vừa đề xuất.
1. Giới thiệu
Trong quá trình phát triển đất nước, công nghiệp hóa và hiện đại học, các nước phát triển đều trải qua tuần tự từng giai đoạn và tiến tới nâng cao mức độ tự động hóa của các thiết bị máy móc sử dụng trong công nghiệp, trong sản xuất hàng hóa. Nhu cầu của con người phát triển không ngừng. Con người dường như không bao giờ thỏa mãn với những phát kiến và sáng tạo của mình trong việc sản xuất hàng hóa và thiết bị. Trong quá trình phát triển ấy, mức độ tự động hóa thiết bị ngày càng cao, người sử dụng càng nhận thấy được ưu nhược điểm của thiết bị mình đang sử dụng. Khi có nhu cầu muốn tăng năng suất lao động và cải thiện môi trường làm việc tốt hơn, người trực tiếp sử dụng thiết bị sẽ có những ý tưởng muốn cải tiến hoặc sản xuất thiết bị mới tốt hơn, có nhiều chức năng tiện lợi hơn. Chính những nhu cầu từ thực tế sử dụng trang thiết bị và tiêu thụ hàng hóa thúc đẩy cho việc nghiên cứu ứng dụng khoa học cải tiến và chế tạo thiết bị mong muốn không ngừng phát triển.
Nếu sự nghiên cứu ứng dụng khoa học kĩ thuật được đặt vào một môi trường thích hợp, nghĩa là ở đó có nhu cầu cải tiến chế tạo sản phẩm, có đủ thông tin và các điều kiện thử nghiệm cũng nhữ những điều kiện khác sẽ tạo ra cơ hội thành công hơn. Trong môi trường đại học và các viện nghiên cứu, cơ bản là những người nghiên cứu thiên về lý thuyết, trong khi ấy những người trực tiếp sử dụng thiết bị nếu có nhu cầu nhưng có thể kiến thức và khả năng hạn hẹp không thể giải quyết được bài toán cải tiến hoặc chế tạo thiết bị mới. Nếu có được sự kết hợp giữa một nơi có nhu cầu và có kinh phí đầu tư, và một nơi có đủ điều kiện nghiên cứu như nguồn nhân lực thông tin và tài liệu thì việc nghiên cứu và ứng dụng có thể sẽ đạt được kết quả tốt hơn.
Ở Nhật Bản, trong thời gian phát triển tăng trưởng kinh tế nhanh từ thập niên 60s tới thập niên 80s, các ngành công nghệ cao đã ra đời. Sau thời gian đó, nền kinh tế Nhật Bản chững lại, mức tăng trưởng kinh tế giảm mạnh. Trước nhu cầu về việc cải tiến trang thiết bị kĩ thuật để nhằm khôi phục lại nền kinh tế, nước Nhật đã tiến hành nhiều việc như cải cách giáo dục, thay đổi chính sách thuê nhân công, thay đổi chế độ đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là kết hợp nghiên cứu và đào tạo giữa các trường đào tạo và các doanh nghiệp sản xuất. Trong bối cảnh đó, năm 1999 Đại học Hàng hải Tokyo (tên cũ) nay là Đại học Hải dương Tokyo (Tokyo Kaiyo Daigaku – Tokyo University of Marine Science and Technology) đã tiến tới thành lập Trung tâm Hợp tác Nghiên cứu Giao thông Hàng hải (Kaiji Kotsu Kyodo Kenkyu Senta - Maritime Transport Co-research Center). Trung tâp hợp tác nghiên cứu này của Đại học Hải dương Tokyo hiện nay đã lôi cuốn được nhiều người tham gia nghiên cứu và đã gặt hái được nhiều thành quả.
Ở Việt Nam, trong giai đoại hiện nay chúng ta đang trên con đường công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước chúng ta cần rất nhiều hàng hóa và sản phẩm phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế trong nước, từ các công ty quốc doanh và các doanh nghiệp tư nhân nhỏ tới việc phục vụ xuất khẩu nước ngoài. Các trường đại học và các viện nghiên cứu chưa thực hiện có hiệu quả việc nghiên cứu khoa học kĩ thuật ứng dụng cải tiến và chế tạo sản phẩm mới phục vụ nhu cầu trong và ngoài nước. Các doanh nghiệp sản xuất, đặc biệt khối doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ và nguồn nhân lực hạn chế thì khó tiếp cận với công nghệ. Mối quan hệ giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp chưa trở thành mối quan hệ mật thiết, do vậy việc nghiên cứu ứng dụng khoa học kĩ thuật chưa phát huy hết tác dụng ở mức độ cao nhất. Trước nhu cầu đó, Đặng Văn Uy và đồng nghiệp đã đề xuất việc thành lập Viện Khoa học Công nghệ Hàng hải cho Đại học Hàng hải Việt Nam. Các tác giả này viết :”Trước sự phát triển mạnh mẽ của ngành hàng hải nói riêng, các ngành kinh tế biển nói chung Trường Đại học Hàng hải Việt Nam phải là một trung tâm nghiên cứu chuyên nghiệp của ngành đóng tàu, xây dựng công trình, kinh tế vận tải biển bảo vệ môi trường biển. Vì vậy, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam phải đổi mới cơ chế quản lý và sắp xếp lại các trung tâm của mình để một số cán bộ khoa học, kĩ thuật viên, công nhân tập trung chuyên sâu về nghiên cứu, triển khai, chế tạo mẫu và chuyển giao công nghệ, làm hạt nhân cho các giảng viên cùng hợp tác nghiên cứu. Do vậy, việc thành lập Viện Khoa học Công nghệ Hàng hải trực thuộc Đại học Hàng hải Việt Nam là vô cùng cần thiết.”(Đặng Văn Uy et al 2005)
Trong bài báo này, người viết xin trình bày tóm tắt hoạt động của Trung tâm Hợp tác Nghiên cứu Giao thông của Đại học Hải dương Tokyo và đề xuất một số hướng ứng dụng và phát triển mô hình viện nghiên cứu ở Việt Nam, cụ thể cho Đại học Hàng hải Việt Nam. Bài báo gồm các phần sau: Phần 2 - Hoạt động và thành quả của Trung tâm Hợp tác Nghiên cứu Đaị học Hải dương Tokyo, Phần 3 - Ứng dụng và phát triển mô hình viện nghiên cứu ở Việt Nam và Phần 4 - Kết luận.
2. Hoạt động và thành quả
2.1 Hoạt động của Trung tâm Hợp tác Nghiên cứu Đại học Hải dương Tokyo
Trung tâm Hợp tác Nghiên cứu Đại học Hải dương Tokyo được thành lập với những mục đích chính như sau:
• Trên cơ sở triển khai những hoạt động nghiên cứu cơ bản đang thực hiện ở trường đại học phát triển thành những nghiên cứu ứng dụng có tính ứng dụng thực tế hơn.
• Tiếp tục nghiên cứu đáp ứng nhu cầu từ thực tiễn trong giới doanh nghiệp và nhà sản xuất, dựa trên cơ sở hợp tác với các doanh nghiệp và nhà sản xuất thực hiện nghiên cứu ứng dụng và phát triển sản phẩm đáp ứng nhu cầu của xã hội.
• Thực hiện tư vấn thích hợp đối với những cuộc đối thoại kĩ thuật từ giới doanh nghiệp và nhà sản xuất.
Trung tâm Hợp tác Nghiên cứu trực thuộc Đại học Hải dương Tokyo có những thiết bị phục vụ thí nghiệm như các tàu huấn luyện, bể kéo (towing tank), bể thử nghiệm mô hình (model test basin), bể nước tuần hoàn (circulating water tank), các thiết bị mô phỏng và những hệ thống thí nghiệm lớn mà các đại học và những nơi khác không có cho nên có thể thu hút được sự quan tâm của nhiều doanh nghiệp để có thể thực hiện việc hợp tác nghiên cứu và đưa các thiết bị thí nghiệm này tới nhiều người sử dụng khác.
Hình 1 minh hoạt hoạt động của Trung tâm Hợp tác Nghiên cứu Đại học Hải dương Tokyo (thuộc phân hiệu Etchyujima). Nhìn vào Hình 1, chúng ta thấy những lĩnh vực nghiên cứu mà Trung tâm hợp tác nghiên cứu giao thông đang triển khai nhiều hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học kĩ thuật trong nhiều lĩnh vực như ựng dụng GPS/GNSS trong dẫn dắt và điều khiển thiết bị giao thông trên đường bộ, đường biển và hàng không, cơ khí chế tạo máy móc, kĩ thuật cảm ứng và điểu khiển từ xa, thiết kế rô bốt trên biển, vật liệu siêu dẫn và ứng dụng IT v.v…
Trung tâm Hợp tác Nghiên cứu Đại học Hải dương Tokyo có hai văn phòng, một văn phòng ở Phân hiệu Etchyujima (Đại học Hàng hải Tokyo cũ) và một văn phòng ở Phân hiệu Shinagawa (Đại học Thủy sản Tokyo cũ). Những lĩnh vực hợp tác chính của văn phòng phân hiệu Etchuyjima là về lĩnh vực công nghệ hải dương như hàng hải, giao thông, đóng tàu, vận tải và dịch vụ đường biển, công nghệ thông tin ứng dụng, điện và điện tử, điều khiển tự động và chế tạo rô-bốt. Những lĩnh vực hợp tác chính của văn phòng phân hiệu Shinagawa là khoa học hải dương như nuôi trồng thủy hải sản, chế biến thực phẩm, sinh thái hải dương học.
 | | Hình 1: Hình 1 Hoạt động của trung tâm (nguồn ĐHHDTK) |
2.2 Chế độ hợp tác nghiên cứu
Trung tâm Hợp tác Nghiên cứu sử dụng nguồn nhân lực là những người đạt được thành quả nghiên cứu tốt của đại học, nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội xúc tiến tích cực hợp tác với các doanh nghiệp. Chế độ hợp tác nghiên cứu giữa đại học với các doanh nghiệp được thực như sau.
Hợp tác nghiên cứu với các doanh nghiệp là chế độ đề bạt những người có thành quả nghiên cứu xuất sắc dựa vào quá trình triển khai nghiên cứu hợp tác về một chủ đề nghiên cứu chung trên lập trường của những đối tác là các nhà nghiên cứu của trường đại học và của doanh nghiệp. Hình 2 minh họa lưu đồ hợp tác nghiên cứu giữa đại học và doanh nghiệp.
 | | Hình 2: Hình 2 Lưu đồ hợp tác nghiên cứu (nguồn: ĐHHDTK) |
Trung tâm Hợp tác Nghiên cứu soạn thảo cơ sở dữ liệu bao gồm cả các mẫu giấy xin hợp tác nghiên cứu, mẫu hợp đồng hợp tác nghiên cứu. Trung tâm và các doanh nghiệp cùng thực hiện việc chuẩn bị nguồn nhân lực cho các dự án hợp tác nghiên cứu sau khi kí kết hợp đồng.
Hình thức hợp tác nghiên cứu:
Sau khi đại học và doanh nghiệp đáp ứng được nguồn lực nghiên cứu: nghiên cứu viên, kinh phí nghiên cứu, thiết bị nghiên cứu sẽ thực hiện việc nghiên cứu. Có bốn hình thức nghiên cứu như sau.
1. Phụ trách việc tiến cử các cơ quan bên ngoài, nghiên cứu viên và kinh phí nghiên cứu. Thực thi việc nghiên cứu hợp tác tại đại học.
2. Phụ trách việc tiến cử nghiên cứu viên cơ quan bên ngoài thực thi nghiên cứu hợp tác ở đại học.
3. Phụ trách việc tiến cử các các cơ quan bên ngoài, nghiên cứu viên, phân chia trách nhiệm giữa đại học và cơ quan ngoài đại học thực thi việc nghiên cứu hợp tác.
4. Phụ trách kinh phí nghiên cứu, phân chia trách nhiệm giữa đại học và và cơ quan bên ngoài, rồi thực thi nghiên cứu hợp tác.
Hình thái 1 và 2 được gọi là Hợp tác nghiên cứu nhất thể. Hình thái 3 và 4 được gọi là Hợp tác nghiên cứu phân chia trách nhiệm. Hình 3 minh họa hình thái nghiên cứu hợp tác.
 | | Hình 3: Hình 3 Hình thái nghiên cứu hợp tác (nguồn: ĐHHDTK) |
Xin cấp bằng sáng chế phát minh: Trường hợp có kết quả nghiên cứu hợp tác tốt và có phát minh mới thì theo nguyên lý, cùng xin cấp bằng sáng chế phát minh. Tuy nhiên, quyền sáng chế phát minh chung thì doanh nghiệp hoặc người được chỉ định sẽ được ưu tiên sử dụng (trong vòng 10 năm kể từ khi xin cấp bằng sáng chế phát minh).
2.3 Nghiên cứu ủy nhiệm
Vì những người nghiên cứu của đại học có thể nhận ủy nhiệm từ các doanh nghiệp và thực thi nghiên cứu nên người được ủy nhiệm chịu kinh phí cần thiết cho việc nghiên cứu. Ngoài ra không cần thiết phải cử người nghiên cứu từ các doanh nghiệp. Hình 4 minh họa mô hình nghiên cứu ủy nhiệm. Trong trường hợp này thì sau khi doanh nghiệp gửi đơn xin hợp tác nghiên cứu thì hai bên kí kết hợp đồng, phía doanh nghiệp trả kinh phí nghiên cứu. Trung tâm nghiên cứu sẽ thực hiện việc nghiên cứu ủy nhiệm theo hợp đồng, hết hạn hợp đồng, người nghiên cứu (phía đại học) sẽ báo cáo kết quả nghiên cứu.
 | | Hình 4: Hình 4 Lưu đồ nghiên cứu ủy nhiệm (nguồn ĐHHDTK) |
2.4 Nghiên cứu viên ủy nghiệm
Tương ứng với sự ủy nhiệm từ doanh nghiệp, trung tâm nhận kĩ thuật viên và nhà nghiên nghiên cứu của doanh nghiệp vào đại học, hướng dẫn nghiên cứu ở mức độ sau đại học. Hình 5 minh họa lưu đồ mô hình nghiên cứu viên ủy nhiệm.
 | | Hình 5: Hình 5 Lưu đồ nghiên cứu viên ủy nhiệm (nguồn: ĐHHDTK) |
2.4 Tiền quyên góp gây quỹ học bổng
Nhằm mục đích hỗ trợ nghiên cứu học thuật và giáo dục tại đại học, trung tâm thu tiền đóng góp từ các doanh nghiệp để gây quỹ học bổng. Quỹ học bổng này sẽ được dùng vào nhiều việc có ích như cấp học bổng cho những sinh viên học giỏi có khó khăn, mời giảng viên giỏi có kinh nghiệm thỉnh giảng v.v...
2.5 Tổ và bộ môn giảng dạy nghiên cứu
Dựa trên số tiền quyên góp gây quỹ học bổng từ các doanh nghiệp Trung tâm đặt mục tiêu thực hiện phát triển nghiên cứu đào tạo và bổ sung nguồn nhân lực bằng cách thiết lập một số tổ bộ môn giảng dạy nghiên cứu các khoa, các phòng nghiên cứu và các bộ phận nghiên cứu hợp tác. Các tổ bộ môn giảng dạy nghiên cứu này mời các giáo sư thành viên từ các cơ quan ngoài đại học vào thực hiện nghiên cứu đào tạo và trích tiền từ quỹ học bổng toàn bộ tiền công giảng bài, kinh phí nghiên cứu, kinh phí đi lại cho họ.
2.6 Những thành quả đạt được
Qua gần sáu năm hoạt động, Trung tâm hợp tác nghiên cứu đã thu hút được nhiều người tham gia hợp tác nghiên cứu và kí được nhiều hợp đồng nghiên cứu với các doanh nghiệp. Trung tâm đã triển khai được nhiều dự án nghiên cứu hợp tác về nhiều chủ để, thu được nhiều thành quả đáng khích lệ. Các chủ đề nghiên cứu rất đa dạng cả về những lĩnh vực khoa học biển lẫn công nghệ biển. Các đề tài nghiên cứu hiện nay được cập nhật thường xuyên tại địa chỉ:
http://www.mtc.e.kaiyodai.ac.jp/Research/res.html
Ví dụ một số chủ đề nghiên cứu của năm ngoái (2004): 1. Nghiên cúu tính thích ứng và kĩ thuật đánh giá chất liệu siêu dẫn ở nhiệt độ cao; 2. Nghiên cứu tìm tòi kĩ thuật cảm biến ứng dụng phương pháp đo lường quang học; 3. Nghiên cứu hợp tác kiểm tra và thiết lập nội dung ứng dụng máy móc, kết mạng dựa trên kĩ thuật lợi dụng dịch vụ broadband vệ trên biển thông qua vệ tinh và đánh giá antenna nước ngoài; 4. Nghiên cứu nâng cao hiệu quả hệ thống hàng hải v.v…
Hai văn phòng của trung tâm còn tổ chức được những hoạt động khác như tiếp thị (marketing), tổ chức hội thảo và hội nghị, triển lãm sản phẩm .v.v… Các hoạt động này được cập nhật tại địa chỉ:
http://www.kaiyodai.ac.jp/Japanese/collabo/index.html
Một số dự án nghiên cứu hợp tác có quy mô lớn hơn được cập nhật tại trang sau:
http://www.mtc.e.kaiyodai.ac.jp/Project/main.html
Năm ngoái, người viết bài này có dịp tham dự hội nghị quốc tế về biển ở Trung tâm hội nghị và triển lãm quốc tế Kobe (Kobe International Conference and Exhibition Center) cũng có cơ hội được tham dự hội thảo và nghe một số báo cáo khoa học của Trung tâm Hợp tác Nghiên cứu Đại học Hải dương Tokyo. Người viết bài này mong muốn mô hình trung tâm nghiên cứu này được triển khai rộng ở Việt Nam để thúc đẩy những hoạt động nghiên cứu về biển cho Việt Nam.
3. Ứng dụng và phát triển mô hình viện hợp tác nghiên cứu ở Việt Nam
Việt Nam đang trên con đường công nghiệp hóa và hiện đại hóa, Việt Nam cần rất nhiều sản phẩm để phục vụ nhu cầu của xã hội. Do đó một mô hình hợp tác nghiên cứu phù hợp và có hiệu quả sẽ mang lại nhiều lợi ích kinh tế. Nếu chúng ta biết ứng dụng mô hình hợp tác nghiên cứu như trình bày ở trên vào Việt Nam một cách sáng tạo phù hợp với điều kiện hiện tại của Việt Nam thì chúng ta có thể tạo ra được nhiều công trình và sản phẩm hơn cho xã hội.
Việc thành lập Viện Khoa học Công nghệ Hàng hải ở Đại học Hàng hải Việt Nam có thể làm đòn bẩy thúc đẩy hoạt động nghiên cứu biển ở Việt Nam. Người viết đã trình bày một số kiến nghị về nghiên cứu biển trong (3). Đặng Văn Uy và đồng tác giả đã đề xuất nhu cầu, mục đích và phương án thành lập Viện Khoa học Công nghệ Hàng hải trong (2). Trong phần này, người viết xin trình bày một số suy nghĩ và đề xuất cho hoạt động của Viện KHCNHH sao cho đạt hiệu quả nhất.
Giai đoạn đầu, Viện tiến hành chương trình tiếp thị, xây dựng và củng cố uy tín của Viện trong cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân, việc này đóng vai trò rất quan trọng. Viện cũng cần phải xậy dựng cơ sở hạ tầng, trang bị nhiều trang thiết bị thí nghiệm hiện đại và có quy mô lớn theo khả năng, xây dựng mạng (network) máy tính và nối kết Internet, xây dựng trang web của Viện nhằm mục tiêu marketing và cập nhật thông tin liên tục, xây dựng cơ sở dữ liệu bao gồm cả những mẫu hợp đồng, mẫu xin đăng kí hợp tác nghiên cứu, tài liệu nghiên cứu, đào tạo nguồn nhân lực trên nhiều lĩnh vực mà viện triển khai nghiên cứu. Củng cố lại thư viện và tăng số đầu sách tài liệu, xây dựng thư viện điện tử và nối kết với Internet với các thư viện quốc tế nhằm có thể tiếp cận đến những nguồn sách vở tư liệu và các nhà xuất bản nhanh nhất. Phải bằng mọi cách để Viện có thể trang bị được tàu nghiên cứu và những thiết bị nghiên cứu trên tàu. Tàu nghiên cứu này có khả năng thực hiện những chuyến thí nghiệm và khảo sát dài ngày trên biển. Viện Khoa học Công nghệ Hàng hải nếu không có được một con tàu nghiên cứu và các thiết bị cần thiết để khảo sát các vùng biển Việt Nam thì thật khó thực hiện được nhiệm vụ nghiên cứu biển một cách hệ thống.
Tập trung xây dựng các phòng thí nghiệm và mô phỏng hiện đại cho một số ngành công nghệ mũi nhọn: công nghệ thông tin ứng dụng trong ngành hàng hải và đóng tàu, điện và điện tử viễn thông, điều khiển tự động, phòng thí nghiệm GPS/GNSS .v.v… Viện cũng cần đặt kế hoạch nghiên cứu những lĩnh vực công nghệ tàu và thiết bị ngầm dưới nước, xây dựng cảng nước sâu, ứng dụng kĩ thuật hạt nhân và đồng vị phóng xạ, chế tạo các thiết bị đo lường chính xác, hợp tác với các viện thủy sản trong nước nghiên cứu về tiềm năng phát triển nguồn lợi thủy hải sản ở khu vực Hải Phòng, đặc biệt vùng đảo Cát Bà.
Trong quá trình tirển khai thực hiện nhiệm vụ của Viện, Viện cần gây dựng quỹ học bổng từ các doanh nghiệp và từ những khoản thu nhập từ các dự án nghiên cứu nhằm mục đích hỗ trợ tài năng trẻ, mời các giáo sư giảng viên có kinh nghiệm về giảng bài cho đội ngũ nghiên cứu viên.
4. Kết luận
Người viết đã trình bày tóm tắt mô hình và hoạt động của Trung tâm Hợp tác Nghiên cứu Đại học Hải dương Tokyo. Mô hình trung tâm hợp tác nghiên cứu này đã có những hoạt động tích cực thu hút nhiều người tham gia hoạt động nghiên cứu, tạo nên mối quan hệ mật thiết giữa đại học và doanh nghiệp, và đã thu được những thành quả rất tốt: tăng số đề tài nghiên cứu, tăng nguồn tiền gây dựng quỹ học bổng và quan trọng hơn hết kết quả hợp tác nghiên cứu đã mang lại những bằng phát minh sang chế cho sản phẩm mới.
Trong hoàn cảnh Việt Nam, mối quan hệ giữa các cơ sở đào tạo và các doanh nghiệp còn lỏng lẻo, mô hình viện nghiên cứu hoặc viện nghiên cứu tư nhân thực hiện được việc hợp tác nghiên cứu giữa đại học và các doanh nghiệp có thể mang lại hiệu quả cao trong việc cải tiến và chế tạo sản phẩm mới. Nếu làm được tốt nhiệm vụ mục tiêu của Viện nghiên cứu chúng ta sẽ thúc đẩy việc nghiên cứu khoa học kĩ thuật và ứng dụng khoa học kĩ thuật trong quần chúng. Trường Đại học Hàng hải Việt Nam thực sự cần thiết có một Viện Khoa học Công nghệ Hàng hải để thúc đẩy việc nghiên cứu úng dụng khoa học kĩ thuật về biển, hàng hải và đóng tàu … nhằm đóng góp vào công cuộc phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam trong những thập niên tới.
Tài liệu tham khảo
1. Nguồn Internet, trang web của Đại học Hải dương Tokyo http://www.kaiyodai.ac.jp/ http://www.kaiyodai.ac.jp/Japanese/collabo/index.html http://www.mtc.e.kaiyodai.ac.jp/outline.html
2. Đặng Văn Uy và Phạm Văn Cương (2005), Tính cấp thiết, mục đích và phương án thành lập Viện Khoa học và Công nghệ Hàng hải, Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải, Số 1, trang 10-15, Đại học Hàng hải Việt Nam, Hải Phòng, Việt Nam.
3. Hải Âu (2005), Một số đề nghị thúc đẩy nghiên cứu biển ở Việt Nam.
4. Nguyen, H.D., Hung P. Nguyen and Giang H. Hoang ( 2005), GNSS – Current Status, Future and Applications in Automation in Vietnam, Proceedings of VICA6, pp. 257-263, Hanoi, Vietnam.
|
Bookmark bài viết này: 
| |