|
| |
| Thư ngỏ về sự ra đời của Quỹ Nghiên cứu Biển Đông Nam Á |
Kính gửi quý vị và các bạn,
Thư này xin được gửi tới tất cả những người Việt Nam và những người yêu chuộng hòa bình công lý trên khắp thế giới. Thư cũng được gửi tới tất cả những người quan tâm đến Biển Đông Nam Á, tới tất cả những người nghiên cứu tìm kiếm một giải pháp hòa bình cho vùng Biển Đông Nam Á. (Nhóm thành lập Quỹ Nghiên cứu Biển Đông Nam Á - Southeast Asian Research Foundation)
| 1. Khái quát lịch sử quan hệ Việt Trung và tình hình trên Biển Đông Nam Á
Người Việt Nam chúng ta có một lịch sử lâu dài và yêu chuộng hòa bình. Chúng ta chắc hẳn còn nhớ thời các vua Hùng người Việt Nam chúng ta có một dải đất rộng lớn với nền văn minh Văn Lang rực rỡ. Những di tích của nền văn minh đó đã và đang được ngành khảo cổ chứng minh. Người Việt Nam chúng ta yêu chuộng hòa bình nhưng sống bên cạnh người láng giềng Trung Quốc khổng lồ luôn luôn có ý đồ bành trướng và xâm lược. Nền văn minh Văn Lang của chúng ta đã bị chấm dứt bởi sự xâm lược của tộc Hán vào khoảng năm 200 trước Công nguyên. Lịch sử đau thương đó của dân tộc Việt vẫn còn là nỗi đau trong tận con tim và giọt máu của mỗi người Việt Nam.
Dân tộc Hán đã xâm chiếm và đô hộ nước Việt Nam chúng ta đến một nghìn năm. Một nghìn năm đó người Việt vẫn sống hiên ngang, vẫn tồn tại mà không bị đồng hóa thành tộc Hán hiếu chiến và bành trướng. Lịch sử Việt Nam đã sang trang bằng trận chiến thắng Bạch Đằng lịch sử năm 938 do Ngô Quyền lãnh đạo. Chiến thắng Bạch Đằng đã chấm dứt một nghìn năm bị giặc Tầu đô hộ. Giặc Tầu bị đuổi ra khỏi bờ cõi Việt Nam nhưng vùng đất của nền văn minh Văn Lang cũng bị thu hẹp lại. Giặc Tầu bị đuổi ra khỏi bờ cõi Việt Nam nhưng chúng không ngừng từ đời này sang đời khác tiếp tục xâm chiếm Việt Nam. Lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của người Việt chúng ta là lịch sử chống giặc Tầu.
Ngay sau khi đất nước Việt Nam chúng ta thoát khỏi nghìn năm giặc Tầu đô hộ, chúng ta đang xây dựng đất nước thì giặc Tầu (nhà Tống) lại đưa quân sang xâm chiếm Việt Nam. Thái Hậu Dương Vân Nga đã trao quyền cho Lê Hoàn để đánh tan quân Tống. Sau trận thua đó, quân Tống vẫn chưa chịu, lại tiếp tục xâm chiếm Việt Nam lần nữa, và Lý Thường Kiệt đã thúc giục toàn quân chống giặc Tống bằng bài thơ Sông núi nước Nam:
Sông núi nước Nam
Sông núi nước Nam vua Nam ở,
Rành rành định phận tại sách trời.
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm,
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.
(Lý Thường Kiệt)
Hết đời nhà Tống bên Trung Quốc, đời nhà Nguyên tiếp theo lại tiếp tục sang xâm chiếm Việt Nam. Mối bang giao Việt Nam và Trung Quốc không bao giờ được yên. Đời nhà Trần Việt Nam đã ba lần phá tan quân Nguyên Mông, nhưng kẻ thù mà người Việt Nam luôn phải đề phòng vẫn là giặc Tầu. Lịch sử Việt Nam vẫn còn ghi rằng vua Trần Nhân Tông nói với thần dân:
"Các ngươi chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ tự cho mình cái quyền nói một đường, làm một nẻo. Vả lại, phải xem đây là mưu của người Trung Quốc. Chỉ người Trung Quốc mới nghĩ ra các thứ mẹo vặt ấy. Loại trừ những điều nhân nghĩa ra, thì các nhà cai trị Trung Hoa không việc gì mà họ không làm. Từ những việc kinh thiên động địa đến việc tán tận lương tâm, miễn sao họ có lợi. Cũng nên nhớ, đây còn là quốc sách truyền thống của người Hoa Hạ từ ngày họ mới lập nước tới nay. Các ngươi có nhớ, hồi đánh giặc Thát ta chỉ ngại cái đám mưu sĩ người Tống, hàng nhà Nguyên, lẫn vào trong đó. Cho tới khi trừ được bọn Lý Hằng, Lý Quán rồi ta mới yên tâm đánh bọn Thoát Hoan, Tích Lệ Cơ Ngọc. Bọn người Thát trước sau gì rồi cũng không nuốt nổi Trung Hoa. Cho nên cái họa lâu dài của ta là họa Trung Quốc. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới quy ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp, không thôn tính được ta thì gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lần lần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các ngươi phải nhớ lời ta dặn: Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác. Ta cũng để lời nhắn nhủ đó, như một lời di chúc cho muôn đời con cháu".
Theo Huyền Trân Công Chúa (NXB Phụ nữ 2004):
Huyền Trân Công Chúa
Lịch sử cũng vẫn còn lưu lại rằng Hưng Đạo Vương làm quan đến đời vua Anh Tông thì xin về trí sĩ ở Vạn Kiếp. Khi ngài sắp mất, vua Anh Tông có ngự giá đến thăm, nhận thấy ngài bệnh nặng, mới hỏi rằng: "Thượng phụ một mai khuất núi, phỏng có quân bắc lại sang thì làm thế nào? "
Hưng Đạo Đại Vương trả lời :”Đại để, kẻ kia cậy có tràng trận, mà ta thì cậy có đoản binh; lấy đoản chống nhau với tràng, phép dùng binh thường vẫn phải như thế. Còn như khi nào quân giặc kéo đến ầm ầm, như gió, như lửa, thế ấy lại dễ chống. Nếu nó dùng cách dần dà, như tằm ăn lá, thong thả mà không ham của dân, không cần lấy mau việc, thế ấy mới khó trị; thì ta nên kén dùng tướng giỏi, liệu xem quyền biến, ví như đánh cờ, phải tùy cơ mà ứng biến, dùng binh phải dồn lòng như cha con một nhà, thì mới có thể đánh được.” Lời đúc kết của Hưng Đạo Đại Vương quả đã không sai, không sai đến tận ngày hôm nay, một ngày gần cuối năm 2007 của thế kỷ 21.
Giặc Tầu đời này nối tiếp đời kia luôn luôn rình rập và chờ lúc Việt Nam yếu kém, lòng dân phân tán, vua quan bạc nhược hèn kém là giặc Tầu lại đưa quân vào xâm chiếm Việt Nam. Lịch sử lần nữa đã phải chịu kiếp nô lệ giặc Minh vào thế kỷ thứ 15. Nguyễn Trãi đã viết Bình Ngô Đại Cáo rằng:
Vừa rồi:
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
Để trong nước lòng dân oán hận
Quân cuồng Minh thưà cơ gây hoạ
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế
Gây thù kết oán trải mấy mươi năm
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời.
Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc.
Vét sản vật, bắt dò chim sả, chốn chốn lưới chăng.
Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng.
Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán,
Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa?
Nặng nề những nổi phu phen
Tan tác cả nghề canh cửi.
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi !
Lẽ nào trời đất dung tha? Ai bảo thần dân chịu được?
(Trích Bình Ngô Đại Cáo, bản dịch của Ngô Tất Tố)
Mối quan hệ Việt Nam Trung Quốc “môi hở răng lạnh” không bao giờ ngừng chiến tranh. Triều đại nhà Minh thất bại, nhưng không vì thế mà người Tầu từ bỏ ý định thôn tính Việt Nan. Vào năm 1788 triều đại nhà Mãn Thanh dưới sự cai trị của vua Càn Long quân mạnh người đông, nhân lúc ở Việt Nam tình hình quốc nội chia năm xẻ bẩy vua chúa tranh giành quyền lực quân Mãn Thanh lại đưa quân sang đất Việt để định thôn tính luôn Việt Nam. Một sự kiện mà lịch sử Việt Nam còn ghi nhớ muôn đời, đó là trời đã sinh ra vua Càn Long ở Trung Quốc thì trời lại sinh ra vua Quang Trung ở Việt Nam. Tài thao lược và cầm quân của vua Quang Trung đã thống nhất được toàn cõi Việt Nam và đã đánh tan 29 vạn quân Mãn Thanh, lịch sử còn ghi các trận Ngọc Hồi, Đống Đa. Quang Trung đã từng nói trước toàn quân:
Đánh cho để dài tóc
Đánh cho để đen răng
Đánh cho nó chích luân bất phản
Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn
Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ
(Quang Trung - Chiếu xuất quân)
Sau chiến thắng đại phá quân Mãn Thanh của vua Quang Trung, tình thế giới đã đổi thay. Các nước phương tây tới chiếm Châu Á, Việt Nam không kháng cự nổi sự xâm lược của phương tây, đất nước lại rơi vào tay quân Pháp. Trung Quốc cũng bị Pháp, Nhật xâm chiếm, nhưng người Trung Quốc không bao giờ từ bỏ ý định xâm chiếm Việt Nam. Lịch sử mấy ngàn năm của Việt Nam đã bao lần bị giặc Tầu xâm lược, giặc Tàu đã tàn phá nền văn minh Văn Lang, đã vơ vét của cải, sách vở, tri thức và nhân lực của Việt Nam để làm giầu cho họ.
Trong thế kỷ 17-18-19, các nước phương tây nhờ vào kỹ thuật hàng hải (hải quân) và vũ khí đã tới chinh phục nhiều nước ở Châu Á. Người Việt Nam cũng vươn ra ngoài biển. Lợi ích từ biển và hải đảo đã thu hút sự chú ý của nhiều quốc gia. Tại Việt Nam, ngay từ đầu thế kỷ 17 thứ chúa Nguyễn đã tổ chức khai thác các đảo, thành lập đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải có nhiệm vụ ra đóng ở hai quần đảo mỗi năm 8 tháng khai thác các nguồn lợi: đánh cá, thâu lượm tài nguyên của đảo, và những vật báu lấy được từ những tàu đắm. Năm 1816, vua Gia Long chính thức chiếm hữu đảo Hoàng Sa, ra lệnh cám cờ trên đảo và đo thủy trình. Năm 1835, vua Minh Mạng cho xây đền, đặt bia đá, đóng cọc và trồng cây. Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải được trao nhiều nhiệm vụ hơn: khai thác, tuần tiễu, thu thế dân trên đảo, và nhiệm vụ biên phòng bảo vệ hai quần đảo (Minh Thu, 2007).
Trong thời kỳ Pháp thuộc đến cuối thế kỷ 19, có những sự kiện sau trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đáng ghi nhớ:
• 26-6-1887: Hiệp ước Pháp – Thanh ấn định biên giới giữa Bắc Việt Nam và Trung Hoa.
• 1895 – 1896: Vụ La Bellona và Imeji Maru.
Có hai chiếc tàu La Bellona và Imeji Maru bị đắm gần Hoàng Sa, một chiếc bị đắm năm 1895, và chiếc kia bị đắm năm 1896. Những người đánh cá ở Hải Nam bèn thu lượm đồng từ hai chiếc tàu bị đắm. Các công ty bảo hiểm của hai chiếc tàu này phản đối chính quyền Trung Hoa. Chính quyền Trung Hoa trả lời là Trung Hoa không chịu trách nhiệm, vì Hoàng Sa không phải là lãnh thổ của Trung Hoa, và cũng không phải của An Nam.
• Năm 1899: Toàn quyền Paul Doumer đề nghị chính phủ Pháp xây ngọn hải đăng nhưng không thành vì tài chính bị thiếu.
Từ đầu thế kỷ 20 trở đi, thế giới bước vào thời kỳ phân tranh Âu và Á, nhưng Trung Quốc luôn mang dòng máu xâm lược bành trướng xuống phía nam. Họ chiếm đất không được họ tính đến chiếm biển và đảo. Họ đánh không được họ dùng chiến dịch gặm nhấm, di chuyển cột mốc biên giới, chiếm các đảo trên biển. Ngay sau khi giành được độc lập 1949, Trung Quốc đã có những ý định chiếm các vùng đảo ở vùng Biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trung Quốc đang thực hiện chiến dịch gặm nhấm đất nước Việt Nam bằng các sự kiện dịch chuyển cột mốc biên giới, chiếm dần các đảo trên Biển Đông đúng như lời vua Trần Nhân Tông đã nói gần nghìn năm về trước.
Các sự kiện lịch sử từ thế kỷ 20 đến nay có thể được tóm tắt theo thứ tự thời gian như sau:
• Năm 1909: Tổng đốc Lưỡng Quảng ra lệnh thám thính quần đảo Hoàng Sa.
• Năm 1920: Mitsui Busan Kaisha xin phép Pháp khai thác quần đảo Hoàng Sa. Pháp từ chối.
• Bắt đầu năm 1920: Pháp kiểm soát quan thuế và tuần tiễu trên đảo.
• 30-3-1921: Tổng đốc Lưỡng Quảng sáp nhập Hoàng Sa với Hải Nam. Pháp không phản đối.
• Bắt đầu từ năm 1925: Tiến hành những thí nghiệm khoa học trên đảo do Dr. Krempt, Giám đốc Viện Hải dương học Nha Trang tổ chức.
• 8-3-1921: Toàn quyền Đông Dương tuyên bố hai quần đảo: Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Pháp.
• Năm 1927: Tàu De Lanessan viếng thăm quần đảo Trường Sa.
• Năm 1930: Ba tàu Pháp: La Malicieuse, L’Alerte và L’Astrobale chiếm quần đảo Trường Sa và cắm cờ Pháp trên quần đảo này.
• Năm 1931: Trung Hoa ra lệnh khai thác phân chim tại quần đảo Hoàng Sa, ban quyền khai thác cho Công ty Anglo-Chinese Development. Pháp phản đối.
• Năm 1932: Pháp chính thức tuyên bố An Nam có chủ quyền lịch sử trên quần đảo Hoàng Sa. Pháp sáp nhập quần đảo Hoàng Sa với tỉnh Thừa Thiên.
• Năm 1933: Quần đảo Trường Sa được sáp nhập với tỉnh Bà Rịa. Pháp cũng đề nghị với Trung Hoa đưa vấn đề ra Toà án Quốc tế nhưng Trung Hoa từ chối.
• Năm 1938: Pháp cho đặt bia đá, xây hải đăng, đài khí tượng và đưa đội biên phòng người Việt ra để bảo vệ đảo Pattle (đảo Hoàng Sa) của quần đảo Hoàng Sa.
• Năm 1946: Nhật bại trận phải rút lui. Pháp trở lại Pattle (An Vĩnh) nhưng vì chiến cuộc ở Việt Nam nên phải rút.
• Năm 1947: Quân của Tưởng Giới Thạch đổ bộ lên đảo Woody (đảo Phú Lâm) của quần đảo Hoàng Sa. Pháp phản đối và gửi quân Pháp - Việt trở lại đảo. Hai bên đàm phán tại Paris. Pháp đề nghị đưa ra Trọng tài quốc tế nhưng Trung Hoa từ chối.
• Năm 1950: Quân của Tưởng Giới Thạch rút khỏi đảo Woody.
• Năm 1951: Tại Hội nghị San Francisco, Nhật tuyên bố từ bỏ tất cả các đảo, Đại diện chính phủ Bảo Đại là Thủ tướng Trần Văn Hữu khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo mà không có nước nào lên tiếng phản đối.
• Năm 1956: Quân đội Pháp rút khỏi Đông Dương. Đội canh của Pháp trên đảo Pattle được thay thế bởi đội canh của Việt Nam.
Trung Quốc cho quân chiếm phía Đông của quần đảo Hoàng Sa, tức nhóm Amphitrite (Nhóm Đông). Trong khi phía Tây, nhóm Crescent (Lưỡi Liềm), vẫn do quân Việt Nam đóng trên đảo Pattle nắm giữ.
• 1-6-1956: Ngoại trưởng Việt Nam Cộng hoà Vũ Văn Mẫu xác nhận lại chủ quyền của Việt Nam trên cả hai quần đảo.
• 22-8-1956: Một đơn vị hải quân của Việt Nam Cộng hoà cắm cờ trên quần đảo Trường Sa và dựng bia đá.
• Ngày 4/9/1958, Chu Ân Lai, Thủ tướng nước CHNDTH công khai tuyên bố với quốc tế về quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Hoa Lục, có đính kèm bản đồ về đường ranh giới lãnh hải rất rõ ràng (trong đó bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa). Sự kiện này xảy ra trong hoàn cảnh Việt Nam đang chiến tranh, nội bộ Việt Nam là một cuộc phân tranh nam bắc như đã lặp lại trong quá khứ.
• Năm 1961: Việt Nam Cộng hoà sáp nhập quần đảo Hoàng Sa với tỉnh Quảng Nam.
• Năm 1973: Quần đảo Trường Sa được sáp nhập vào tỉnh Phước Tuy.
• Ngày 19/1/1974, TQ oanh tạc và chiếm Hoàng Sa, giết chết 54 lính Việt Nam Cộng hoà
• Năm 1975: Quân đội Nhân dân Việt Nam thay thế quân đội của Việt Nam Cộng hoà tại quần đảo Trường Sa.
• Năm 1977: Việt Nam tuyên bố lãnh hải, kể cả lãnh hải của các đảo.
Trong thời gian này, nhiều quốc gia khác cũng đã chiếm một số đảo của quần đảo Trường Sa.
• Ngày 17/2/1979, TQ thời Đặng Tiểu Bình đã tấn công dọc biên giới phía bắc.
• Năm 1987, TQ thực hiện nhiều cuộc tuần tiễu ở Trường Sa và xây căn cứ quân sự ở đây
• Ngày 14/3/1988, TQ bắn chìm ba tàu hải quân VN, giết chết 74 lính của CHXHCN VN, chiếm một số đảo ở Trường Sa
• Tháng 4/1988, TQ tách Hải Nam ra khỏi tỉnh Quảng Đông để thành lập tỉnh mới, trong đó có Trường Sa và Hoàng Sa
• Năm 1988: Lần đầu tiên Trung Quốc gửi quân tới quần đảo Trường Sa. Quân của Trung Quốc đụng độ với Hải quân Việt Nam. Trên 70 người lính Việt Nam bị mất tích. Trung Quốc đã chặn không cho tàu mang cờ Chữ Thập Đỏ ra cứu quân Việt Nam.
• Năm 1989: Trung Quốc chiếm thêm một đảo.
• Năm 1990: Trung Quốc đề nghị khai thác chung quần đảo Trường Sa.
• Năm 1992: Trung Quốc chiếm thêm một số đảo nữa.
• Năm 1994: Đụng độ giữa Việt Nam và một chiếc tàu Trung Quốc nghiên cứu cho Công ty Crestone.
• Tháng 11/2002, ASEAN và TQ thông qua Bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông
• Năm 2004, VN mở tuyến du lịch đến ba đảo thuộc quần đảo Trường Sa do VN nắm giữ. TQ phản đối.
• Tháng 1/2005 Hải quân Trung Quốc bắn chết 8 ngư dân Việt Nam đang đánh cá ở vùng biển chủ quyền Việt Nam trong Vịnh Bắc Bộ
• Tháng 3/3005, VN, TQ và Phillippines kí thoả thuận 3 năm cùng nhau thăm dò dầu khí ở vùng tranh chấp xung quanh Trường Sa
• Năm 2006, TQ mở tuyến du lịch Trường Sa và Hoàng Sa, xây sân bay và bến cảng ở đây. VN phản đối
• Tháng 6/2007, Công ty dầu BP rút khỏi dự án thăm dò dầu thô ở Bloc 5-2 giữa VN với Trường Sa do TQ phản đối
• Tháng 8/2007, TQ bắn và bắt giữ ngư dân Việt Nam tránh bão ở khu vực gần quần đảo Hoàng Sa (to be confirm)
• Từ ngày 16/11/2007 đến đầu tháng 12/2007, Hạm đội Nam Hải (hạm đội mạnh nhất của Hải quân TQ) tiến hành tập trận trong vùng Trường Sa.
• Ngày 23/11/2007, Phát ngôn viên, Lê Dũng, Bộ ngoại giao Việt Nam tuyên bố tập trận trong khu vực quần đảo Trường Sa là xâm phạm chủ quyền của VN
• Ngày 26/11/2007, Thứ trưởng Phạm Bình Minh gặp người phát ngôn và Thứ trưởng (Assistant Foreign Minister) Trung Quốc. Trang mạng của Bộ Ngoại giao TQ đưa tin nhưng không nói nội dung cuộc gặp. Trang mạng của Bộ Ngoại giao VN không đưa tin.
• Ngày 27/11/2007, Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao TQ bác bỏ phản đối của VN, nói “VN và TQ không có tranh chấp gì về vấn đề này” [Trung Quốc có chủ quyền với quần đảo Tây Sa và các đảo lân cận] (xem ở đây)
• Khoảng tháng 11/2007, Quốc vụ viện Trung Quốc (tức Chính phủ) âm thầm phê chuẩn việc thành lập thành phố cấp huyện Tam Sa (tên tiếng Anh là San Sha) thuộc tỉnh Hải Nam, quản lý ba khu vực là Tây Sa (Hoàng Sa), Trung Sa và Nam Sa (Trường Sa).
Không có hãng tin quốc tế nào đưa tin về việc này. Hiện vẫn chưa rõ ngày phê chuẩn!
• Ngày 3/12/2007, Lê Dũng, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao VN, trả lời câu hỏi của Thông tấn xã VN trong cuộc họp báo, nói phản đối TQ thành lập chính quyền cấp huyện, vi phạm chủ quyền, trái với “nhận thức chung của lãnh đạo hai nước”.
Đến nay, chưa thấy Bộ Ngoại giao TQ phản ứng trước tuyên bố này.
• Ngày 9/12/2007 Hai cuộc biểu tình nhỏ và ôn hoà diễn ra trước Đại sứ quán TQ tại Hà Nội và Lãnh sự quán TQ ở TP HCM.
• Trưa Chủ nhật 9/12 AP đưa tin “Người Việt tổ chức cuộc biểu tình hiếm có chống hành động của Trung Quốc nhằm kiểm soát các đảo đang tranh chấp”. Các hãng thông tấn quốc tế như AFP, BBC, CNN, MSNBC, USA Today, International Herald Tribune, ngay lập tức đăng lại bản tin này (Xem bản dịch trên minhbien.org)
• Ngay trong ngày Chủ nhật 9/12 (ngày nghỉ), trang mạng Bộ Ngoại giao đưa tin người phát ngôn Lê Dũng nhắc lại tuyên bố phản đối TQ thành lập thành phố Nam Sa, đồng thời nói về các cuộc biểu tình sáng 9/12:
“Chúng tôi được biết, sáng ngày 9/12/2007, một số người dân đã tụ tập trước cửa Đại sứ quán và Tổng Lãnh sự quán Trung Quốc tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh bày tỏ bất bình đối với các hành động gần đây của Trung Quốc liên quan đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Đây là việc làm tự phát, chưa được phép của các cơ quan chức năng Việt Nam. Khi các vụ việc trên xảy ra, các lực lượng bảo vệ của Việt Nam đã kịp thời có mặt, giải thích và yêu cầu bà con chấm dứt việc làm này”.
Trước sự phản ứng của đông đảo người Việt Nam về sự xâm chiếm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, phía Trung Quốc (Tần Cương) tỏ thái độ trịch thượng đúng như thái độ của các tiền nhân của họ trong quá khứ:
“Các đảo ở Nam hải (Biển Đông) và lĩnh vực phụ cận là thuộc chủ quyền của Trung Quốc không thể tranh cãi, đó là lập trường nhất quán của chính phủ Trung Quốc.Chúng tôi thừa biết rằng chính quyền Việt Nam có những khẳng định [chủ quyền] khác nhau vào những thời kỳ lịch sử khác nhau của nó. Lãnh đạo Trung Quốc và Việt Nam đã trao đổi quan điểm về vấn đề này vào nhiều dịp và đã thống nhất sẽ cùng làm việc để giải quyết các tranh chấp biển thông qua đối thoại và đàm phán nhằm đảm bảo ổn định trên Biển Nam Trung Hoa và lợi ích tổng thể trong quan hệ hai nước.
Chúng tôi hết sức quan ngại về những diễn biến gần đây ở Việt Nam vì chúng sẽ làm tổn hại quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam. Chúng tôi hi vọng chính phủ Việt Nam sẽ giữ thái độ có trách nhiệm và tiến hành các giải pháp có hiệu quả để ngăn chặn các diễn biến tiếp theo và [không để] các quan hệ song phương bị tổn hại.”
Nguyên bản tiếng Anh:
Q: It is reported that there were so-called “protests against China” in Hanoi and Ho Chi Minh City of Vietnam on December 9, 2007. Do you have any comment?
A: It is a consistent position of the Chinese Government that China has indisputable sovereignty over the islands and adjacent waters in South China Sea. We are well aware of Vietnam’s different claims in different periods of its history. The leaders of China and Vietnam have exchanged views on the issue on various occasions and agreed on working together to properly settle maritime disputes through dialogue and negotiation so as to maintain the stability in the South China Sea and the overall interest of bilateral relations.
We are deeply concerned over recent developments in Vietnam which will undermine the friendly relations between China and Vietnam. We hope that the Vietnamese Government would take a responsible attitude and adopt effective measures to prevent the situation from further developing and the bilateral relations being undermined.
Người Việt Nam chúng ta không thể chấp nhận một lời tuyên bố trịch thượng kẻ cả của người Trung Quốc như trên. Họ vừa ăn cướp họ vừa la làng. Họ tìm mọi cách để nội bộ chúng ta lục đục họ sẽ tiếp tục lấn tới. Nếu chúng ta mất đoàn kết giữa chính phủ và nhân dân, mất đoàn kết giữa người Việt trong và ngoài nước chúng ta sẽ rơi vào cạm bẫy của Trung Quốc. Tổ tiên chúng ta đã đúc kết đối sách với Trung Quốc là phải trên dưới đồng lòng, cả dân tộc cùng cùng đồng lòng thì sẽ chiến thắng được giặc Tầu. Đây là cơ hội để người Việt khắp nơi trên thế giới hướng về tổ quốc Việt Nam để tìm đối sách, để phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng vững mạnh thì có thể ngăn chặn được sự xâm lược của Trung Quốc xuống vùng Biển Đông. Chúng ta cần phải bảo vệ cả vùng đất vùng trời và vùng biển Việt Nam.
2. Sự cần thiết một quỹ nghiên cứu tìm giải pháp hòa bình cho Biển Đông Nam Á
Trong thế kỷ 20, mặc dù VN và TQ thể hiện "tinh thần quan hệ hợp tác hữu nghị 16 chữ vàng" nhưng TQ không bao giờ bỏ lỡ cơ hội có thể xâm chiếm lãnh thổ và biển đảo của Việt Nam. Các sự kiện từ đầu thế kỷ 20 đến nay được tóm tắt ở trên đã tỏ rõ ý đồ bành trướng xuống phía nam của Trung Quốc. Trung Quốc rắp tâm chiếm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trung Quốc từ lâu đã thực hiện nhiều bước công phu tỷ mỷ có sự tham gia của nhiều học giả (Hàn Chấn Hoa, Lý Kim Thành v.v...). Họ đã xây dựng nhiều tài liệu nhằm tuyên bố về chủ quyền của họ trên hai quần đảo Hoàng Sa (Tây Sa) và Trường Sa (Nam Sa) của Việt Nam. TQ xây dựng và củng cố các trạm lính hải quân trên các đảo mà họ chiếm được. TQ liên tục bắn và bắt ngư dân VN đánh cá ngay vùng hải phận chủ quyền của VN, TQ tập trận ngay trên vùng biển của VN... Trung Quốc chuẩn bị trên mọi phương diện để họ hợp thức hóa chủ quyền của họ sau khi cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa và một số đảo của Trường Sa. Chắc chắn họ sẽ không từ bỏ ý định lấn chiếm thêm các đảo khác nhằm thực hiện việc chiếm 80% vùng biển đảo của Biển Đông.
Trong khi đó Việt Nam chúng ta chưa coi trọng việc nghiên cứu và chưa công bố nhiều tài liệu về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên trường quốc tế. Tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta cần phải đặt vấn đề giải quyết Hoàng Sa và Trường Sa ở mức độ học thuật, nghĩa là cần có những nghiên cứu công phu tỷ mỷ hệ thống và cần được công bố ở nhiều hội nghị quốc tế và tạp chí quốc tế. Trong những năm gần đây đã xuất hiện tự phát một số nhóm nghiên cứu về Biển Đông, Trường Sa và Hoàng Sa, nhưng các nhóm này xuất hiện lẻ tẻ nên cần phải được thống nhất lại để tạo thành một Trung tâm dữ liệu về biển (gồm các vùng biển và hải đảo như Vịnh Bắc Bộ, Biển Đông, Trường Sa, Hoàng Sa và Vịnh Thái Lan). Để làm được việc này, chúng ta cần phải có một quỹ để hoạt động. Những công việc cần thiết ban đầu là thiết lập trang web, thu thập tài liệu, lưu trữ tài liệu, và tiến hành scan, biên soạn, biên tập tài liệu, và việc lớn hơn là thực hiện các dự án nghiên cứu biển, tập trung vào việc chứng minh chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, các giải pháp giải quyết vấn đề tranh chấp, chuẩn bị tư liệu cho các cuộc đàm phán cũng như một phiên tòa quốc tế nếu có.
Để làm được những công việc trên chúng ta rất cần một Quỹ nghiên cứu Biển Đông (East Vietnam Sea Research Fund), hoặc tên có tính bao quát hơn là Quỹ Nghiên cứu Biển Đông Nam Á = South East Asian Sea Research Fund (SEAS Research Fund), tên này hay ở chỗ nó thể hiện vùng biển chung của nhiều quốc gia Đông Nam Á, từ viết tắt lại là từ SEAS = các vùng biển, dễ đọc dễ nhớ. Tên này có thể gây được sự chú ý, hỗ trợ và đóng góp của các nước khác. Trong khi chờ đợi phía nhà nước/chính phủ VN thực hiện những việc này có lẽ phải rất lâu, chúng ta thành lập quỹ và thực hiện các nghiên cứu ở mức độ học thuật từ nhỏ cho tới lớn, sẽ có thể góp phần giúp được chính phủ thực hiện được việc đàm phán hoặc giải quyết vấn đề ở toàn án quốc tế nếu có. Nếu quỹ lớn có thể trợ giúp được một số sinh viên ngành luật quốc tế làm nghiên cứu về việc giải quyết vấn đề tranh chấp trên Biển Đông, cũng như có thêm nhiều luật sư học giả am hiểu luật quốc tế để họ có thể tư vấn cho các công ty nước ngoài vào làm ăn khai thác trên vùng Biển Đông. Khi có nhiều công ty nước ngoài dính phần vào Biển Đông, Việt Nam chúng ta có thể có được sự ủng hộ từ nhiều nước.
3. Sự ra đời của nhiều trang web về Hoàng Sa và Trường Sa
Từ sau trận oanh tạc và cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa của Trung Quốc đến nay, có nhiều người quan tâm đến đến vấn đề này đã thu thập tài liệu. Đặc biệt trong thời gian gần đây ngay sau khi Trung Quốc tuyên bố thành lập thành phố Tam Sa bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã xuất hiện nhiều trang web và blogs cá nhân viết về Hoàng Sa và Trường Sa. Một số ví dụ các trang web về Hoàng Sa và Trường Sa:
Nhóm Hội Hàng hải Việt Nam
Nhóm Mạng lưới Hàng hải
Trung tâm dữ liệu về Hoàng Sa Trường Sa
Dong A's Blog
Minh Biện
Bùi Thanh's Blog
Vũ Hữu San
Tạp chí Thời đại mới, Số 11 Tháng 7/2007
v.v...
Các trang web này lẻ tẻ và phát triển tự phát cần phản được tập trung lại thành một Trung tâm dữ liệu Biển Đông Nam Á và các giải pháp hòa bình cho Biển Đông Nam Á.
4. Những ý tưởng chính của việc thành lập Quỹ Nghiên cứu Biển Đông Nam Á
Năm 2005, ngay sau khi hải quân Trung Quốc bắn thuyền đánh cá ngư dân Hải Lộc Thanh Hóa đang đánh cá ở khu vực biển Việt Nam trong vùng Vịnh Bắc Bộ, đã nhiều người rất bất bình trước hành động xấc xược vô nhân đạo của hải quân Trung Quốc, một nhóm lưu học sinh Việt Nam ở nước ngoài đã gây dựng lên trang web Biển Đông nhằm quyên góp tiền ủng hộ người than nạn nhân và lên án hành động bạo lực của Trung Quốc. Tiếp theo phong trào quyên góp tiền giúp đỡ nạn nhân nhóm sinh viên này đã xây dựng một trang web dữ liệu cho nhóm Biển Đông, vì nhân lực ít không có quỹ nên hoạt động của nhóm Biển Đông không tồn tại được lâu.
Trung Quốc vẫn không ngừng có những hành động khiêu khích và vô nhân đạo trong vùng Biển Đông (Biển Đông Nam Á). Gần đây nhất vào tháng 7 hải quân Trung Quốc lại tiếp tục bắn ngư dân Việt Nam khi các ngư dân này ghé thuyền vào khu vực biển gần Quần đảo Hoàng Sa tránh bão. Theo thông lệ hàng hải thì các tàu hải quân thường phải giúp các thuyền đánh cá tránh, hành động bắn và bắt giữ ngư dân của Trung Quốc không thể hiện tinh thần trợ giúp và hợp tác trong khu vực.
Quỹ Ngiên cứu Biển Đông Nam Á là sự nối tiếp những hoạt động nhằm góp phần vào việc hỗ trợ các nghiên cứu lien quan đến Biển Đông, Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bảo vệ công lý hòa bình cho Biển Đông Nam Á.
Ngay sau khi thành lập Quỹ Nghiên cứu Biển Đông Nam Á (Southeast Asian Research Foundation), chúng ta cần thực hiện hai công việc chính trước mắt như sau:
1. Biên tập, biên soạn, viết, dịch và xuất bản sách tài liệu về Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông nhằm giáo dục quần chúng. Một số tài liệu cần được xuất bản như sau (theo đề xuất của Dương Danh Huy):
Cuốn Địa Lý Biển Đông và Vịnh Bắc Bộ của tác giả Vũ Hữu San (cần biên tập sửa lại lối hành văn và
xuất bản ngay, cuốn này có rất nhiều tư liệu quý)
Dịch sang tiếng Anh, biên tập và xuất bản cuốn luận văn về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường sa của tác giả Nguyễn Nhã.
Quyển sách của ông Phạm Kim Hùng (chưa biết đã ra mắt chưa, nếu chưa thì làm sao đó để xuất bản bản tiếng Việt trước, sau đó dịch sang tiếng Anh và xuất bản bản tiếng Anh):
xem ở đây
Link xem Luận văn
Quyển sách The Sino-Vietnamese Difference on the Hoang Sa and Truong Sa Archipelagoes của ông Lưu Văn Lợi, Bộ Ngoại giao Việt Nam xuất bản vào thập niên 80-90, về quan điểm của nhà nước về Hoàng Sa và Trường Sa nhưng chắc không mấy ai có (cần dịch sang tiếng Việt, hoặc cho tái xuất bản).
Quyển Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands của bà Chemillier-Gendreau (professor of international law, Paris University) cho là chủ quyền HS, TS thuộc vể VN: (cần dịch sang tiếng Việt):
Link xem cuốn Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands
Quyển Sharing the Resources of the South China Sea của ông Valencia nói về phân chia Biển Đông công bằng theo luật biển quốc tế (trong khi TQ đòi chiếm tối 80% Biển Đông, bản đồ hải phận hình lưỡi bò, dĩ nhiên là không công bằng) (dịch sang tiếng Việt):
Link giới thiệu sách của Amazon
2. Xây dựng trang web Quỹ Nghiên cứu Biển Đông Nam Á và trang web Trung tâm Dữ liệu Biển Đông Nam Á: Việc này nhằm tập hợp tất cả các mạng và các trang web về Hoàng Sa, Trường Sa để thành lập một mạng lưới rộng khắp của cộng đồng người Việt Nam trên toàn thế giới. Chúng ta cần liên kết các trang web và các nhóm khác nhau ở trong và ngoài nước mà không phân biệt thể chế chính trị. Từ đó chúng ta thành lập một Trung tâm dữ liệu biển Đông Nam Á (Database Centre for Southeast Asian Sea).
5. Tóm tắt quá trình ra đời Quỹ Nghiên cứu Biển Đông
Ngày 9/12/2007: Các trao đổi về Biển Đông, Trường Sa, Hoàng Sa của các nhóm vinavigation.net, minhbien.org, vinamaso.net/forum và mạng VNSA.
Ngày 10/12/2007: Ý tưởng thành lập Quỹ nghiên cứu Biển Đông được khởi xướng bởi Đông Tà trên VNSA, được Hải Âu, Huy Dương và các thành viên khác ủng hộ, bắt đầu trao đổi về việc thành lập quỹ.
Ngày 14/12/2007: Chính thức thành lập quỹ, thiết lập các tài khoản của quỹ.
Ngày 14/12/2007: Khởi đầu trang web blog Quỹ Nghiên cứu Biển Đông Nam Á
Ngày 15/12/2007: Thành lập nhóm email Quỹ Nghiên cứu Biển Đông Nam Á
(tiếp tục cập nhật thông tin)
Nhóm sáng lập QNCBDNA
Founders of SEAS RESEACH FOUNDATION
Tài liệu tham khảo chính
1. Nguyễn Nhã (2002).
2. Trang web Minh Biện
3. Từ Đặng Minh Thu (2007). Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
4. Wikipedia tiếng Việt.
5. Nguyễn Đức Hùng (2005). Một số đề nghị thúc đẩy nghiên cứu biển ở Việt Nam
Phụ lục Một số hình ảnh trên Quần đảo Hoàng Sa (Nguyễn Nhã, 2002)
 | | Hình 1: Vị trí của Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa trên Biển Đông |
 | | Hình 2: Không ảnh đảo Hoàng Sa (Pattle Island, Shanhu Dao) với cơ sở quân sự, khí tượng Việt Nam (chụp năm 1968) |
 | | Hình 3: Tượng Phật Bà Quan Âm trên đảo Hoàng Sa |
 | | Hình 4: Sân thượng ty khí tượng của Việt Nam tại đảo Hoàng Sa (Pattle Island, Shanhu Dao) (chụp năm 1969) |
 | | Hình 5: Bia chủ quyền trên đảo Hoàng Sa (Pattle Island) (trước 1974) |
Giới thiệu Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
|
Bookmark bài viết này: 
| |