|
| |
| Phúc trình về công tác nghiên cứu phốt phát cuối cùng tại Quần đảo Hoàng Sa của phái đoàn Nhật-Việt vào mùa thu năm 1973 |
LTS: Khoảng năm tháng trước khi biến cố Trung Cộng chiếm Hoáng Sa (ngày 20-1-1974), một nhóm chuyên viên nghiên cứu Việt Nhật, trong đó có tác giả là người được chỉ định đứng ra tổ chức và hướng dẫn công cuộc khảo sát này. Đây không phải là cuộc khảo sát duy nhất, mà trước đây đã biết bao đoàn chuyên viên nghiên cứu khác, nhưng đặc biệt đây là một phái đoàn nghiên cứu quốc tế do chính quyền miền Nam đứng ra tổ chức, và có lẽ cho đến khi xảy ra trên đảo Hoàng Sa, đây là phái đoàn cuối cùng nghiên cứu phốt phát tại Hoàng Sa. Tác giả hay những phái đoàn nghiên cứu trên là những nhân chứng cho việc hành sử liên tục chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa cho đến khi bị Trung Cộng cưỡng chiếm. Kỹ-sư TRẦN-HỮU-CHÂU | I. Đại cương
Nhằm mục-đích phát-triển tài-nguyên thiên-nhiên của nước nhà, Bộ Kế-Hoạch và Phát-Triển Quốc-Gia đã tổ-chức một cuộc khảo-sát, tại chỗ số lượng phốt-phát dưới dạng “ Guano” dự-trữ tại quần đảo Hoàng-Sa từ 11.08.1973 đến 23.08.1973 với sự trợ giúp kỹ-thuật của Marubeni Corporation (Japan).
Thành phần phái đoàn tham-dự công cuộc khảo-sát gồm:
Ô Trần-Hữu-Châu: Kỹ-Sư Hóa-Học, Việt-Nam Kỹ-Nghệ Phân Bón Công Ty (Bộ Kế-Hoạch và Phát-Triển Quốc-Gia).
A. Miura: Kỹ-Sư hầm mỏ, Marubeni Corp, Tokyo, Japan
K.Okamoto: Kỹ-Sư hầm mỏ, Marubeni Corp,Tokyo, Japan
A.Shirane: Kỹ-Sư hầm mỏ, chuyên-viên về chuyền-vận Marubeni Corp, Tokyo, Japan
Nguyễn-Quốc-Hải: Thông dịch viên , Marubeni Corp, Saigon Việt Nam
Kỹ Sư Trần-Hữu-Châu được chỉ-định tổ-chức và hướng-dẫn công cuộc khảo-sát này.
Phái đoàn rời Sàigon ngày 11.08.1973 ra Đà-Nẵng bằng đường hàng không, lên Tuần Dương Hạm Trần-Quang-Khải HQ2 tại Đà-Nẵng ngày 12.8.1973 và rời Tuần Dương-Hạm tại Đà-Nẵng ngày 22.8.1973.
Theo chương-trình dự-trù phái đoàn sẽ khảo-sát hết quần đảo Hoàng-Sa gồm:Nhóm Croissant ( Nguyệt Thiền), Nhóm Anphitrite (Tuyên Đức) , và hai đảo biệt lập là đảo Linh Côn ( Lincoln) và Vĩnh Lạc (Quang Ảnh). Tuy nhiên vì nhóm Anphitrite và đảo Linh-Côn đã bị Trung Cộng chiếm đóng, nên phái đoàn chỉ có thể thực-hiện công-tác khảo-sát nhóm Croissant (Nguyệt Thiền) và đảo Vĩnh Lạc(Quang Ảnh) gồm các đảo:
Lịch-trình khảo-sát:
1- Đảo Cam-Tuyền (Hữu-Nhật) (Robert): 14-8 và 15-08-1973
2- Đảo Quang-Hà-Đông (Duncan): 16-08-1973
3- Đảo Quang-Hà-Tây (Palm Island): 17-08-1973
4- Đảo Duy-Mộng (Drummond): 18 và 19-08-1973
5- Đảo Hoàng-Sa (Pattle): 19-08 và 20-08-1973
6- Đảo Vĩnh-Lạc (Quang Ành) (Money): 21-08-1973
II. ĐỊA THẾ VÀ TÌNH-TRẠNG CƯ-TRÚ TẠI CÁC ĐẢO
Chỉ riêng đảo Vĩnh-Lạc (Quang Ảnh), nằm hẳn ra phía ngoài, cách hẳn Hoàng-Sa (pattle) về phía Nam Tây Nam vào khoảng 12 cây số, năm đảo còn lại và những vòng đai san-hô bao quanh họp thành gần một vòng tròn đường kính 18 cây số.
Mỗi đảo đều có một vòng đai san-hô riêng biệt bao quanh. Vòng đai này đứt quãng nên các loại xà lan có tầm sâu vào khoảng 1m đến 1,5m có thể vào sát ngay bãi cát bao phủ xung-quanh đảo. Hai đảo Quang-Hòa-Đông và Tây chỉ cách nhau một rạch nước khoảng 800m khi nước lên; khoảng cách này chỉ còn vào khoảng 500m khi nước ròng.
2.1— Địa-thế và tình-trạng cư-trú tại từng đảo.
2.1.1 Đảo Cam- Tuyền (Hữu Nhật).
Đảo gần hình tròn, chu-vi 2000m diện-tích khoảng 0,32 cây số vuông (32/ha). Một vòng đai san-hô bao quanh đảo, vòng đai này ở nhiều chỗ lấn hẳn vào bãi cát của đảo. Qua bãi cát là vòng đai cây “phosphorite” và cây nhàu nhàu dày khoảng 30m, cao từ 2m đến 3m .
Chính giữa đảo là những lớp cát hoặc đá, nơi đây không có cây lớn, đôi chỗ có vài cây họp thành bụi nhỏ. Hiện còn một số chim biển cư ngụ tại phần chính giữa này Đảo Can-Tuyền (Hữu Nhật) hiện không có người cư ngụ.
2.1.2 Đảo Quang-Hòa-Đông (Duncan).
Đảo nằm theo hướng Đông tây, chu-vi 2700m, diện- tích khoảng 0,48 cây số vuông (4,8 ha). Phía Tây bao phủ bởi rừng cây nhau và cây “phosphorite”, nhiều cây cao tới 4m. Phía đông là những mảnh vụn san hô với đá rồi tới một khu đất chỉ có dây leo bò sát mặt đất. Hiện còn khá nhiều chim biển cư ngụ phía Đông của Đảo. Đảo Quang-Hà-Đông hiện không có người cư ngụ.
2.1.3 Đảo Quang-Hà-Tây (Palm Island).
Đảo gần hình tròn, chu-vi 1000m, diện-tích khoảng 0,09 cây số vuông (9ha) . Đảo gồm toàn cây “phosphorite” và một số ít cây nhàu, chiều cao vào khoảng 3m . Chung quanh đảo là những bãi cát và những lớp đá. Đảo hiện không có người cư ngụ.
2.1.4 Đảo Duy-Mộng (Drummond).
Đảo hình bầu dục gần tròn, chu-vi 2300m, diện-tích khoảng 0,41 cây số vuông (41 ha). Phần lớn đảo bao phủ bởi cây “phosphorite”, và một số ít cây nhàu. Sâu một chút vào trong đảo, về hướng Nam Tây Nam là một khu đất trống, tại đây chỉ có cỏ ngắn mọc, điểm thêm lác đác vài bụi cây. Trên đảo chúng tôi tìm thấy năm ngôi mộ gồm: 2 ngôi của Thủy Quân Lục Chiến Việt-Nam dựng lên từ năm 1963 với 3 ngôi mộ với bia đề chữ Trung-Hoa.Chung quanh đảo có nhiều đá ăn lấn từ vòng đai san-hô vào lớp cát. Trên đảo hiện không có người cư-ngụ. Trong thời-gian khảo-sát chúng tôi thấy rất ít chim biển.
2.1.5 Đảo Hoàng-Sa (Pattle).
Đảo gần có hình dạng của một hình chữ nhật, chu vi khoảng 2100m, diện-tích khoảng 0,3 cây số vuông (30ha). Chúng ta thấy một cầu tàu bằng đá và xi măng và một kinh đào dẫn vào tàu, cách cầu tàu khoảng 3m. Tuy nhiên vì không có tu bổ từ năm 1964 nên cầu tàu đã bị sóng gió cắt đứt thành nhiều màng ngắn, kinh đào cũng bị cát và đá phụ lấp.
Trên đảo Hoàng-Sa từ năm 1931 đến nay thường xuyên có một trung-đội do Tiểu-Khu Quảng-Nam điều-động trấn đóng và 5 nhân viên thuộc Ty Khí-Tượng Hoàng-Sa.
2.1.6 Đảo Vĩnh-Lạc ( Quang Ảnh, Money).
Đảo có hình dạng của một hình bầu dục hơi tròn, chu-vi 2500m, diện-tích khoảng 0,5 cây số vuông (50ha). Phần lớn bao phủ bởi cây “phosphorite” và một loại cây khác rất giống cây mít nhưng không có trái. Đặc biệt là đảo Vĩnh Lạc (Quang Ảnh) này chúng tôi gặp rất nhiều cây lớn, cao tới gần 500m ở gần trung tâm đảo. Trung tâm đảo là một bãi cỏ dại khá lớn, bải cỏ này được che bởi một vòng đai cây gai cao khoảng 1,5m, dầy khoảng 30m.Hiện đảo có rất nhiều chim biển tới cư ngụ. Chúng tôi không gặp một dấu vết gì chứng tỏ đã có người cư ngụ ngoại trừ một chòi nhỏ bằng cây, có lẽ đó là chỗ nghỉ chân của dân chài tới đảo để lấy trứng chim.
2.2 Công tác đổ bộ tại đảo
Vấn đề cho cập bến tại các đảo đều giống nhau, vòng đai san hô chung quanh đảo có những độ sâu rất bất thường.Trong tất cả những lần công tác tại mỗi đảo,phái đoàn rời Tuần Dương Hạm ở một khoảng cách tới trung tâm đảo từ 1500 đến 2000m,đi xuồng nhỏ vào cách tới bãi cát khoảng từ 100 đến 200m rồi lội bộ vào. Tại khoảng cách này còn có nhiều chỗ có độ sâu khoảng 2m. Vì thế theo chúng tôi thị những xà lan có tầm sâu từ 1m đến 1,5m có thể tìm vào sát đảo những lúc nước lên và mực nước ròng tại quần đảo Hoàng Sa ghi nhận tối đa là 2,40m.Nước chỉ lên và ròng thông thường mỗi ngày một lần.
III. SỐ LƯỢNG PHỐT PHÁT DỰ TRỮ TẠI CÁC ĐẢO
3.1—Số lượng các phốt phát theo ý kiến của các chuyên gia Nhật Bản
3.1.1 Đảo Cam-Tuyền (Hữu Nhật, Robert)
Đảo này trước đây vào khoảng từ 1924 đến 1926 đã được người Nhật khai thác. Theo Ông Shirane vào khoảng 50.000 tấn phốt phát đã chở về Nhật Bản.
Phái đoàn đã đào thử tất cả 9 hố thực nghiệm . Lớp cát trên mặt chứa chất phốt phát tại nhiều nơi đã khai thác hết, chỉ còn lại một số ít và những lớp đá khó đào. Chiều sâu của lớp cát chứa phốt phát thay đổi từ 0-30 cm. Theo sự ước lượng của các chuyên viên Nhật Bản, số lượng phốt phát còn dự trữ tại đảo Cam Tuyền ước độ 5000 m3.
3.1.2 Đảo Quang Hòa Đông (Duncan)
Trong phần đảo bao phủ bởi cây phosphorite, 4 hố thực nghiệm đã được đào thử, lớp cát có chất phốt phát chứa trên mặt tới một chiều sâu trung bình khoảng 20cm.Số lượng phốt phát dự trữ tại phần này của đảo khoảng 15.000m3.
Tại phần bao phủ bởi các cây leo nhỏ, 3 hố thực nghiệm đã được đào . Lớp cát có chứa chất phốt phát tìm thấy trên mặt tới một chiều sâu trung bình khỏang 30 cm .Số lượng phốt phát dự trữ khỏang 10.000 m3.
3.1.3 Đảo Quang Hòa Tây (Palm Island)
3 hố thực nghiệm đã được đào thử, lớp cát chứa phốt phát ở trên mặt đất tới một chiều sâu trung bình khoảng 15cm. Số lượng phốt phát dự trữ khoảng 5000m3.
3.1.4 Đảo Duy Mộng (Drummond)
Phần lớn đảo bao phủ bởi cây “phosphorite”. Phần đất này, theo chuyên viên Nhật Bản, có cùng cấu tạo như các đảo đã khảo sát. Do đó phái đoàn chỉ đào 3 hố thực nghiệm . Lớp cát có chất phốt phát tìm thấy ở trên mặt chỉ đạt tới một độ sâu trung bình khoảng 20cm. Số lượng phốt phát dự trữ tại quần đảo này khoảng 25.000m3.
Trong phần đảo còn lại, 4 hố thực nghiệm đã được đào. lớp cát trên mặt chứa chất phốt phát đạt tới một chiều sâu trung bình khoảng 40cm. Số lượng phốt phát dự trữ khoảng 15.000m3.
3 .1.5 Đảo Hoàng Sa (Pattle)
Đảo Hoàng Sa trước đây đã được Công Ty Phân Bón Việt Nam do Ông Bùi Kiến Thành khai thác trong khoảng thời gian từ năm 1956 đến năm 1964, Công Ty này đã chở vào đất liền một số lượng vào khoảng 100.000 tấn. Hiện trên đảo còn một số lượng nữa, khoảng 4000 tấn đã được Công Ty chất đống dọc theo đường tư cầu tàu vào trung tâm đảo nhưng chưa kịp chở vào đất liền.
Phái đoàn đã đào 6 hố thực nghiệm để khảo sát số lượng phốt phát còn dự trữ tại đảo Hoàng Sa này. Lớp cát trên mặt chứa chất phốt phát chỉ đạt tới một chiều sâu trung bình khoảng 15cm. Số lượng phốt phát dự trữ khoảng 10.000m3.
3.1.6 Đảo Vĩnh Lạc (Quang Ảnh, Money)
Trong phần đảo bao phủ bởi cây “phosphorite” và cây nhàu; 4 hố thực nghiệm đã được đào . Lớp cát trên mặt chứa chất phốt phát chỉ đạt tới một chiều sâu trung bình khoảng 30cm. Số lượng phốt phát dự trữ tại phần đất này của đảo ước lượng khoảng 25.000m3.
Tại trung tâm đảo có một khu chỉ bao phủ bởi một loại cỏ thấp mà thôi , không có cây lớn . Tuy nhiên phái đoàn chúng tôi đã không thể vào tận khu này để khảo sát tại chỗ vì hai trở ngại dưới đây:
a) Trở ngại về địa thế: khu đất trung tâm đảo Vĩnh Lạc (Quang Ảnh) được che chở bởi vòng đai cây gai cao khoảng từ 1m . Lớp cây gai này dầy khoảng 30m. Khi phái đoàn hoàn tất công tác khảo sát phần đất bao phủ bởi cây “phosphorite” và duy chuyển tới vòng đai cây gai lúc đó đã 15.00 giờ .Việc phá vòng đai cây gai để di chuyển vào trung tâm đảo chắc chắn chỉ thực hiện được trong ngày hôm sau .
b) Trở ngại về thời tiết : phái đoàn dự trù hoàn tất công tác đo đạc trong ngày để hôm sau sẽ khảo sát tại khu đất trung tâm đảo . Tuy nhiên để tránh ảnh hưởng trận bão Joan thổi từ Phi Luật Tân vào Trung Cộng phái đoàn bắt buộc phải hoàn tất sớm hơn dự trù một ngày để vào Đà Nẵng.
Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của 3 nhân viên Nhật Bản đã từng đi khảo sát nhiều nơi và kinh nghiệm tại đảo Duy Mông, số lượng phốt phát dự trù tại phần đất này của đảo Vĩnh Lạc khoảng 20.000m3.
Tổng kết về số lượng cát chứa phốt phát tại 6 đảo đã khảo sát theo các chuyên viên Nhật Bản là 130.000m3.Tuy nhiên khi khai thác khoảng 50% số lượng này sẽ bị thất thoát vì những lý do kỹ thuật. Do đó số lượng cát chứa phốt phát khai thác chỉ vào khoảng 65.000m3 hay 80.000 tấn.
(Trong khối lượng riêng của lớp cát chứa chất phốt phát này theo Ông Shirane là 1,2 tấn/m3).
3.3 Số lượng phốt phát trong các lớp đá và san hô
Dựa trên kinh nghiệm các hố thực nghiệm tại đảo Cam Tuyền (Hữu Nhật) và những cuộc khảo cứu trước đây của người Pháp, chúng tôi nhận thấy lớp đá chứa chất phốt phát nằm dưới lớp cát ở chiều sâu từ 0,5m đến 2,0m. Tại đảo Hoàng Sa(Pattle) nhiều lớp đá nằm sâu dưới 3m. Trong khi đó tại nhiều nơi trên đảo Cam Tuyền (Hữu Nhật, Robert) và Vĩnh Lạc (Quang Ảnh,Money) lớp đá nằm ngay trên mặt đât.Tuy nhiên chúng tôi chỉ có thể ước lượng được lớp đá chứa phốt phát dầy trung bình khoảng 1,5m ngoại trừ tại đảo Quang Hòa Tây (palm Island) chiều dầy của lớp đá chỉ vào khoảng 1,0m (thay vì 1,5m) vì lớp cát trên mặt đảo quá dầy.
Ngoài lớp đá ở ngay dưới đảo còn có những lớp đá thuộc vòng đai san hô. Những lớp đá này ăn lấn vào các đảo, và chạy dài ra biển, tại nhiều nơi đạt tới một chiều dài khoảng 100m . Những lớp đá này, chắc chắn cũng chứa một số lượng phốt phát đáng kể. Chiều dầy lớp đá chứa phốt phát tại vòng đai san hô chỉ vào khoảng 1,0m vì tại đây chỉ khi nước biển xuống những lớp đá này mới hiện ra, phần lớn bị bao phủ khi nước thủy triều lên.
Diện tích của vòng đai san hô ước định bằng x/3 diện tích của đảo với lý do vòng đai tuy lớn nhưng có nhiều chỗ bị cát phủ lên. Tuy thế sự đóng góp về số lượng phốt phát của các vòng đai san hô này cũng rất đáng kể.
Lượng phốt phát trong lớp đá và san hô được ước tính như sau:
3.2.1 Đảo Cam Tuyền (Hữu Nhật,Robert)
Lớp đá trên đảo :
30 x 10.000 x 1,5 = 450.000m3
Vòng đai san hô :
10 x 10.000 X 1,0 = 100.000m3
3.2.2 Đảo Quang Hòa Đông (Duncan)
Lớp đá trên đảo :
48 x 10.000 x 1,5 = 720.000m3
Vòng đai san hô :
16 x 10.000 X 1,0 = 160.000m3
3.2.3 Đảo Quang Hòa Tây ( palm Island)
Lớp đá trên đảo :
9 x 10.000 x 1,0 = 90.000m3
Vòng đai san hô :
3 x 10.000 X 1,0 = 30.000m3
3.2.4 Đảo Duy Mộng (Drummond)
Lớp đá trên đảo :
41 x 10.000 x 1,5 = 615.000m3
Vòng đai san hô :
41 x 10.000 X 1,0 = 410.000m3
3.2.5 Đảo Hoàng Sa (Pattle)
Lớp đá trên đảo :
20x 10.000 x 1,5 = 300.000m3
Vòng đai san hô :
7 x 10.000 X 1,0 = 70.000m3
Tại đảo Hoàng Sa, một số lượng phốt phát đã được Công Ty Phân Bón Việt Nam khai thác .
3.2.6 Đảo Vĩnh Lạc ( Quang Ảnh,Money)
Lớp đá trên đảo : 50 x 10.000 x 1,5 = 750.000m3
Vòng đai san hô: 17 x 10.000 X 1,0 = 170.000m3
Tổng cộng toàn thể 6 đảo = 3.595.000m3
Nếu trong tổng số phốt phát ước lượng chúng ta chỉ có thể khai thác được một nửa, thì số lượng đá phốt phát chúng ta có thể khai thác được tại quần đảo Hoàng Sa (chỉ kể đến nhóm Croissant va đảo Vĩnh Lạc) vào khoảng 1.800.000m3. Số lượng này tương đương với một trọng lượng 2.700.000 tấn (trọng khối riêng, theo các chuyên viên Nhật Bản, là 1,5 tấn/m3).
3.3 Nhận xét:
Trong cuộc khảo sát này, phái đoàn chỉ đem theo các dụng cụ bằng tay như: xà beng, quốc chim, xẻng nên chỉ có thể đào những hố thực nghiệm trong những lớp cát,san hô hay đá vụn. Phần lớn những hố này chỉ được đào sâu khoảng 0,70cm. Riêng tại đảo Quang Tuyền (Hữu Nhật) chúng tôi đã tự ý thực hiện một hố thực nghiệm đạt tới chiều sâu 1,50m; công tác này đã đòi hỏi suốt 4 giờ làm việc cua 4 nhân viên được cung cấp từ Tuần Dương Hạm Trần Quang Khải.
Vì thế số lượng phốt phát ước lượng trong lớp cát tương đối chính xác hơn số lượng phốt phát trong lớp đá và san hô . Tuy vậy số lượng sau này lại đáng kể hơn. Theo Ông Trịnh Quang Nghiêm, Trưởng Ty Khí Tượng Hoàng Sa, người đã được hân hạnh quan sát công tác khai thác phốt phát của Công Ty Ông Bùi Kiến Thành thì những bao phốt phát mà Công Ty phân phối tại thị trường nội địa không phải lấy từ lớp cát mặt mà lấy từ lớp đá ở vòng đai san hô chung quanh đảo và ngay tại đảo ở bên dưới lớp cát . Những tảng đá này sau đó được nghiền nhỏ, vô bao tại đảo Hoàng Sa và di chuyển về đất liền.
IV. KẾT LUẬN
Tổng cộng số lượng phốt phát ước tính tại các đảo là :
trong lớp cát: 80.000 tấn
trong lớp đá và san hô: 2.700.000 tấn & 2.780.000 tấn
Việc có nên khai thác số lượng này hay không, còn tùy thuộc vào độ bách phân P2.5 chứa trong các mẫu đất và đá (được các chuyên viên Nhật đem về thử), giá thành khai thác và kinh phí đầu tư. Một phúc trình khả thi chi tiết về vấn đề này sẽ do các chuyên viên Nhật soạn thảo và đệ trình Bộ Kế Hoạch.
Trần Hữu Châu |
Bookmark bài viết này: 
| |