NHẬN XÉT VỀ CÁC LUẬN CỨ CỦA CÁC CHÍNH PHỦ TRUNG-QUỐC ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG-SA VÀ TRƯỜNG-SA
Tạ Quốc Tuấn
Cuộc tranh chấp về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa đã kéo dài hơn nửa thế kỷ rồi. Ngoại trừ trận đụng độ lớn giữa hải quân Việt-nam Cộng-hòa và hải quân Nhân-dân Cộng-hòa Trung-hoa (Trung-Cộng) tại quần đảo Hoàng-sa ngày 19 và 20 tháng 1 năm 1974, trong đó Trung-Cộng, với một lực lượng lớn hơn lại không bị phân tán cũng như suy yếu vì nội chiến như Việt-nam Cộng-hòa, nên đã cưỡng chiếm được quần đảo này, và một trận nổ súng nhỏ ngày 14.3.1988 tại vùng quần đảo Trường-sa giữa hải quân của hai nước cùng là cộng sản là Việt-nam và Trung-quốc, phần nhiều sự tranh chấp đều diễn ra dưới hình thức tranh biện qua các lời tuyên bố, thông cáo, văn thư, bạch thư của các chính phủ Việt-nam và Trung-quốc thuộc cả hai phe quốc gia và cộng sản. Ngoài ra, còn có nhiều bài báo, biên khảo hay sách viết về vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa của một số học giả, nhà văn, nhà báo hai bên nữa.
Để biện minh hành động xâm lăng của mình năm 1974, trái với tinh thần của bản Hiến chương Liên-hiệp-quốc mà Trung-Cộng từ khi gia nhập vào tháng 10 năm 1971 đã cam kết tôn trọng và bảo vệ, Trung-Cộng đã nại cớ hai quần đảo Hoàng-sa (hay là Tây-sa trong từ ngữ Trung-quốc) và Trường-sa (Trung-quốc gọi là Nam-sa) vốn từ lâu là một phần lãnh thổ của Trung-quốc nhưng đã bị Nhật-bản xâm chiếm trong trận Thế Chiến thứ II và đã được chính phủ Trung-hoa Dân-quốc thu hồi lại năm 1946 sau khi trận chiến này chấm dứt. Trung-hoa Dân-quốc cũng đã phụ họa sự biện minh này. Các luận cứ của Trung-Cộng còn được nhiều tài liệu ngoại quốc nhắc đi nhắc lại.
Trong bài này chúng tôi sẽ đưa ra những nhận xét về các luận cứ của các giới trong chính phủ Trung-quốc, cả quốc gia lẫn cộng sản, đã cố gắng chứng minh chủ quyền của Trung-quốc trên hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa. Tuy các phe tranh chấp gồm có Việt-nam (trước là Việt-nam Cộng-hòa, sau là Cộng-hòa Xã- hội Chủ-nghĩa Việt-nam), Trung-quốc (cả Trung-hoa Dân-quốc lẫn Trung-hoa Nhân-dân Cộng-hòa quốc), Phi-luật-tân, và gần đây lại còn thêm cả Mã-lai-á, Brunei, v.v., nhưng hai phe tranh chấp chính vẫn là Việt-nam và Trung-quốc. Chúng tôi không nghiên cứu luận cứ của Việt-nam vì nhiều người đã làm việc này rồi. Trái lại, chúng tôi chỉ cứu xét luận cứ của Trung-quốc thôi, vì ngoài lý do Trung-quốc là một trong hai phe tranh chấp chính ra mà còn vì lý do là Trung-quốc, dù là quốc gia hay cộng sản, vẫn có một ảnh hưởng và một thế lực quan trọng tại Đông-nam
Á-châu.
Mặt khác, chúng tôi cũng giới hạn thời gian nghiên cứu vào từ sau trận Thế Chiến thứ II trở lại đây, không đề cập tới thời gian trước đó. Chỉ từ khi vấn đề Hoàng-sa và Trường-sa được đề cập tới trong một hiệp ước quốc tế, Hòa Ước Cựu-kim-sơn ký ngày 8 tháng 9 năm 1951, nhất là từ khi người ta tìm thấy có nhiều túi dầu rất quan trọng ở trong vùng này, sự tranh chấp chủ quyền mới trở nên ngày một mạnh. Thêm vào đó là biến cố Đảng Cộng-sản Trung-quốc nắm chính quyền ở Hoa-lục ngày 1.10.1949, đã làm sôi động chính trường quốc tế, nhất là ở vùng Đông-Á và Đông-nam Á-châu, từ thập niên 1950 trở đi.
Sau hết, bài này chỉ cứu xét các luận cứ chính thức của cả hai chính phủ cộng sản ở Hoa-lục và quốc gia ở Đài-loan.
Các tài liệu chúng tôi sử dụng trong bài này nếu là của chính phủ đều phát xuất từ Bắc-kinh hay Đài-bắc. Nếu có nguyên bản Hoa văn thì chúng tôi dùng làm tài liệu chính; nếu không, chúng tôi dùng bản dịch Anh ngữ cũng của hai chính phủ đó và cũng coi là tài liệu chính. Trong trường hợp không có hai loại tài liệu này, chúng tôi căn cứ vào bản dịch Anh ngữ của nhiều nguồn khác, nhất là của Tòa Tổng Lãnh-sự Hoa-kỳ tại Hương-cảng (như các nhà nghiên cứu các vấn đề ở Hoa-lục đã dùng trước năm 1971) hay của các đài phát thanh Hoa-kỳ, Anh-quốc, v.v.
Vì sử dụng các tài liệu thuộc nhiều loại khác nhau như vậy nên không thể có sự đồng nhất trong việc ghi chép các địa danh và đặc biệt là nhân danh Trung-quốc. Chúng tôi cố gắng ghi các từ đó bằng Việt ngữ. Tuy nhiên khi không biết rõ một từ viết bằng Hoa ngữ như thế nào, chúng tôi sẽ không ghi bằng Việt ngữ vì sợ có thể ghi sai và bắt buộc giữ lại lối ghi âm thấy trong tài liệu mà chúng tôi dùng. Lối ghi âm này có khi là bằng phương pháp phanh âm (pinyin) được dùng ở Hoa-lục hay trong các tài liệu của các nhân vật hay cơ quan ngoại quốc biên soạn từ thập niên 1980 trở đi, hoặc bằng phương pháp Wade-Giles hiện vẫn được dùng trong phần lớn các tài liệu phát xuất từ Đài-loan hoặc của các tác giả thuộc phe Trung-hoa Dân-quốc cũng như trong các tài liệu ngoại quốc trước thập niên 1980.
Ngoài ra, có một số danh từ hay địa danh mà người Trung-quốc dùng khác người Việt-nam. Trong tài liệu này, khi đứng về phương diện Trung-quốc, chúng tôi sẽ dùng các từ theo lối của người Trung-quốc, còn khi đứng về phương diện Việt-nam chúng tôi dùng các từ theo người Việt-nam. Thí dụ người Trung-quốc nói Tây-sa, Nam-sa, Nam-hải (hay Nam Trung-quốc-hải), Quốc-vụ viện (Trung-Cộng), Hành-chính viện (Đài-loan), v.v., còn người Việt-nam lại nói Hoàng-sa, Trường-sa, Đông-hải (hay biển Đông), Chính phủ...
Luận cứ của các chính phủ Trung-hoa Dân-quốc (trong bài này gọi tắt là chính phủ Đài-loan) và Trung-hoa Nhân-dân Cộng-hòa quốc (tức Trung-Cộng) thường được phát biểu những khi có một biến cố hay sự việc nào có liên quan tới vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa.
|