Tìm kiếmĐăng ký thành viên  >  Đăng nhập    Liên hệ  |  English    
  

Trang chủ



Thư viện trực tuyến



 Hệ thống hàng hải điện tử
 Hệ thống vệ tinh dẫn đường
 White Paper on the Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) Islands 1975
 Địa đàng ở Phương Đông
 The Hoang Sa and Truong Sa Arhipelagoes and International Law VN-MOFA 1988
 The Hoang Sa and Truong Sa Archipelagoes Vietnamese Territories VN-MOFA 1981
 United Nations Convention on the Law of the Sea
 Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands
 The Sino-Vietnamese Difference on the Hoang Sa and Truong Sa Archipelagoes
 Toán Hàng hải
 Quá trình xác lập chủ quyền của VN tại QĐ HS-TS (Vn)
 The Course to Establish the Sovereignty of Vietnam over Paracels and Spratlys
 黄沙諸島・長沙諸島におけるベトナムの主権確立過程
 Quá trình xác lập chủ quyền của VN tại QĐ HS-TS (Ch)
 Tập San Sử Địa - Số 29



1. Thử đặt vấn đề Hoàng Sa
2. Quần đảo Hoàng Sa
3. Phúc trình về công tác nghiên cứu phốt phát lần cuối cùng
4. Phúc trình cuộc thám sát hòn Nam Yít thuộc QĐ Trường Sa
5. Những sử liệu tây phương minh chứng chủ quyền của Việt Nam
6. Hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa giữa Đông Hải
7. Hoàng Sa và Trường Sa, lãnh thổ Việt Nam
8. Những sử liệu chữ Hán minh chứng chủ quyền của Việt Nam
9. Thử khảo sát về quần đảo Hoàng Sa
10. Hoàng sa dưới mắt nhà địa chất H. Fontaine
11. Phương diện địa danh học của hai quần đảo HS và TS
12. Nhận xét về các luận cứ của Trung Hoa



. Giới thiệu
. Phản ứng đối với lời tuyên bố của tổng thống Phi Luật Tân Quirino (1951)
. Dịp có Hòa hội Cựu Kim Sơn (1951) - Hòa ước San Francisco 1951
. Phản ứng của Trung Quốc đối với việc Phi Luật Tân đòi chủ quyền trên Quần đảo Trường Sa (1956)
. Dịp Việt Nam Cộng Hòa bắt giữ ngư dân Trung Cộng (1959)
. Phản ứng đối với lời tuyên bố của Tổng thống Phi Luật Tân về chủ quyền trên Quần đảo Trường Sa (1971)
. Luận cứ nêu ra trong vụ đụng độ hải quân với Việt Nam Cộng Hòa (1974)
. Các tuyên bố của Trung Quốc từ sau trận hải chiến tháng 1/1974
. Kết luận
. Chú thích và Tài liệu tham khảo




14. Hoàng Sa qua vài tài liệu văn khố của hội truyền giáo Ba-Lê
15. Các văn kiện chính thức xác nhận chủ quyền của Việt Nam
16. Hoàng Sa qua những nhân chứng
17. Thư mục chú giải về Hoàng Sa






Tài liệu tham khảo
Tra cứu



Thảo luận



Tạp chí trực tuyến



Các bản tin







Dịp có Hòa hội Cựu Kim Sơn (1951) - Hòa ước San Francisco 1951
Người gửi: HaiAuVIN

II. DỊP CÓ HÒA HỘI CỰU-KIM-SƠN (1951)
(Hòa ước San Francisco 1951)

Đến đầu tháng 9 năm 1951, theo lời mời của Chính phủ Hoa-kỳ, 51 quốc gia trước kia đã từng tham gia hay có liên hệ tới cuộc chiến chống xâm lăng Nhật-bản từ năm 1939 đến năm 1945 đã tham dự Hội Nghị Hoà Bình nhóm họp ở Cựu-kim-Sơn (San Francisco), một thành phố thuộc tiểu bang California (Hoa-kỳ), để thảo luận vấn đề chấm dứt tình trạng chiến tranh và tái lập bang giao với Nhật-bản. Điểm đáng chú ý là cả hai phe quốc gia và cộng sản Trung-quốc đều không được mời tham dự hội nghị. Trong hội nghị, vấn đề chính là thảo luận bản dự thảo hòa ước do hai nước Anh và Hoa-kỳ đồng tác giả đề nghị ngày 12.7.1951. Ngày 8.9.1951, ngoại trừ Liên-sô và một số nước Cộng sản đàn em, các nước tham dự hội nghị đã ký hòa ước với Nhật-bản(2).

Vì thấy mình bị Hoa-kỳ gạt ra ngoài hoà hội, các nhà lãnh đạo Bắc-kinh, ngay từ cuối năm 1950, đã có phản ứng. Họ một mặt ra một số tuyên bố chính thức, và mặt khác cho phép đăng các bài báo để lên án việc không mời Trung-Cộng tham dự hòa hội và để trình bày quan điểm của Bắc-kinh về một số vấn đề cần phải được thảo luận, trong đó có vấn đề chủ quyền trên quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa.

Vì giới hạn của đề tài, ở đây chúng ta chỉ xét tới các luận cứ của chính phủ Trung-Cộng đối với vấn đề chủ quyền này thôi.

Ngày 4.12.1950 Châu Ân-lai, lúc đó là Bộ trưởng Ngoại giao, trong bản tuyên bố đầu tiên của chế độ, đã nêu ra căn bản chính để ký một hoà ước với Nhật-bản:


"Bản Tuyên cáo Cairo, Thỏa ước Yalta, bản Tuyên ngôn Potsdam và các chính sách căn bản đối với Nhật-bản sau khi nước này đầu hàng đã được các quốc gia trong Ủy hội Viễn đông thỏa thuận và thông qua ngày 19.6.1947 các văn kiện quốc tế mà Chính phủ Hoa-kỳ đã ký kết là căn bản chính cho một hòa ước liên hợp với Nhật-bản."(3)


Châu Ân-lai còn nói thêm là:


"Nhân dân Trung-quốc rất ước muốn sớm có một hoà ước liên hợp với Nhật-bản cùng với các quốc gia đồng minh khác trong thời kỳ Thế Chiến thứ hai. Tuy nhiên, căn bản của hoà ước phải hoàn toàn thích hợp với bản Tuyên cáo Cairo, Thỏa ước Yalta, bản Tuyên ngôn Potsdam và các chính sách căn bản đối với Nhật-bản sau khi nước này đầu hàng được qui định trong các văn kiện này."(4)


Tuy bản tuyên bố trên của Trung-Cộng không đề cập đến vấn đề chủ quyền đối với Hoàng-sa và Trường-sa mà chỉ đề cập tới các vấn đề khác, nhưng vì nó đã nêu ra quan điểm chính yếu của Bắc-kinh nên chúng ta cần phải nghiên cứu kỹ nó cùng với bản tuyên bố ngày 15.8.1951 là tuyên bố chính thức của Bắc-kinh về vấn đề chủ quyền trên hai quần-đảo Hoàng-sa và Trường-sa để tìm hiểu giá trị các luận cứ của Trung-Cộng.

Thực vậy, khi nghiên cứu bản dự thảo Hoà ước Cựu-kim-sơn của Anh-Mỹ gửi cho các quốc gia được mời tham dự hoà hội, Chính phủ Trung-Cộng thấy điều 2 của bản dự thảo này không qui định là hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa mà Nhật-bản từ bỏ phải được trao cho quốc gia nào. Do đó, ngày 15.8.1951, sau khi đề cập tới quan điểm của Bắc-kinh về từng vấn đề một được nêu trong bản dự thảo(5), Châu Ân-lai đã tuyên-bố:


"...Dự thảo Hiệp ước qui định là Nhật-bản sẽ từ bỏ mọi quyền đối với đảo Nam-uy (đảo Spratly) và quần đảo Tây-sa (quần đảo Paracel), nhưng lại cố ý không đề cập tới vấn đề tái lập chủ quyền trên hai quần đảo này. Thực ra, cũng như các quần đảo Nam-sa, quần đảo Trung-sa và quần đảo Đông-sa, quần đảo Tây-sa (quần đảo Paracel) và đảo Nam-uy (đảo Spratly) bao giờ cũng là lãnh thổ Trung-quốc. Dù các đảo này đã có lúc bị Nhật-bản chiếm đóng trong một thời gian trong trận chiến tranh xâm lăng do đế quốc Nhật-bản gây ra, sau khi Nhật-bản đầu hàng Chính phủ Trung-quốc đã thu hồi những đảo này.

"Do đó Chính phủ Nhân dân Trung ương nước Cộng hòa Nhân dân Trung-hoa tuyên bố: dù Dự thảo Hiệp ước Anh-Mỹ có mang các điều khoản về vấn đề này hay không và dù các điều khoản này có được soạn thảo như thế nào, chủ quyền bất khả xâm phạm của nước Cộng hòa Nhân dân Trung-hoa trên đảo Nam-uy (đảo Spratly) và quần đảo Tây-sa (quần đảo Paracel) sẽ không vì thế mà bị ảnh hưởng."(6)


Sau đó Châu Ân-lai kết luận vấn đề này bằng cách phủ nhận giá trị bất cứ một thỏa ước nào ký với Nhật-bản mà không có sự tham dự của Bắc-kinh:


"Chính phủ Nhân dân Trung ương nước Cộng hòa Nhân dân Trung-hoa một lần nữa tuyên bố: Nếu không có sự tham dự của nước Cộng hòa Nhân dân Trung-hoa trong việc chuẩn bị, soạn thảo và ký hòa ước với Nhật-bản dù nội dung và kết quả một hiệp ước như vậy có như thế nào, Chính phủ Nhân dân Trung ương cũng coi hòa ước ấy hoàn toàn bất hợp pháp, và vì vậy sẽ vô hiệu."(7)


Tuy lời kết luận này nhằm chung toàn thể hòa ước với Nhật-bản, nó cũng bao trùm luôn cả vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa.

Ngoài ra, trong bản tuyên bố này chúng ta nhận thấy có những điểm đáng chú ý sau:

Thứ nhất, tuy tuyên bố là đảo Nam-uy và quần đảo Hoàng-sa lúc nào cũng là lãnh thổ của Trung-quốc, Châu Ân-lai lại không nêu ra một chi tiết nào để chứng minh chủ quyền của Trung-quốc đối với các đảo này.

Đành rằng trong một bản tuyên bố chính thức của chính phủ không thể nào kể hết mọi chi tiết hay dẫn chứng, nhưng ít nhất nó cũng phải nêu ra một vài thí dụ cụ thể để hỗ trợ lời tuyên bố và để giúp người ngoại cuộc có thể hiểu rõ một cách khách quan hơn những điều được trình bày trong bản tuyên bố. Làm thế nào người ngoại cuộc có thể thông cảm và ủng hộ lời tuyên bố nếu nó không mang một chi tiết nào, dù là nhỏ nhất, để giúp người ngoại cuộc có thể kiểm chứng tính cách xác thực và chân chính của lời tuyên bố? Nếu tuyên bố chỉ là để tuyên bố thì lời tuyên bố rất yếu. Chúng ta cũng nên biết rằng trong bản tuyên bố này khi đề cập đến các vấn đề khác Châu Ân-lai đã nêu nhiều chi tiết để chứng minh hay biện hộ.

Vì vậy sự không dẫn chứng của Châu Ân-lai đối với vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa thật đáng cho chúng ta phải ngạc nhiên và khiến chúng ta phải tự hỏi phải chăng vì biết Trung-Cộng quả không có một căn bản nào vững vàng, về pháp lý cũng như về lịch sử, để chứng minh chủ quyền này nên Châu Ân-lai đã phải bỏ không viện dẫn chứng cớ?

Thứ hai, bản tuyên bố này, cũng như các bản tuyên bố khác Trung-Cộng công bố sau này, và cả các bản tuyên bố của Đài-loan, đã đề cập tới việc Chính phủ Trung-quốc thu hồi hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa sau khi Nhật-bản đầu hàng tháng 8 năm 1945.

Một câu hỏi cần được đặt ra: việc Chính phủ Trung-quốc, khi đó là Trung-hoa Dân-quốc, thu hồi hai quần đảo này có phải là một hành vi hợp pháp không?

Chúng ta biết rằng năm 1938, trước khi xẩy ra trận Thế Chiến thứ II, Nhật-bản đã chiếm Lâm-đảo thuộc quần đảo Hoàng-sa, nói là để khai thác thương mại nhưng thực ra chính là để lập căn cứ chiến lược làm bàn đạp tấn công vùng Đông-nam Á. Theo R. Serene, "Năm 1938 Nhật-bản mượn cớ khai thác thương mại đã chiếm Lâm-đảo để bành trướng sự kiểm soát tới các đảo Cam-tuyền và Linh-côn..."(8).

Rồi đến ngày 31.3.1939, Bộ Ngoại giao Nhật-bản ra một thông cáo là trước đó một ngày Nhật-bản đã quyết định đặt quần đảo Trường-sa duới quyền kiểm soát của Nhật-bản vì lý do tại đây đã thiếu một chính quyền hành chính địa phương nên đã làm thiệt hại đến quyền lợi của Nhật-bản(9). Trong suốt thời gian của trận Thế Chiến thứ II, Nhật-bản đã đóng quân trên hai quần đảo này cho tới khi đầu hàng các nước Đồng minh.

Mặt khác, vào cuối năm 1943, trong lúc chiến tranh đang ở mức độ ác liệt nhất thì các nhà lãnh đạo tối cao của Hoa-kỳ, Anh và Trung-hoa Dân-quốc đã bí mật gặp nhau tại Cairo, kinh đô vương quốc Ai-cập, từ ngày 23 đến 27 tháng 11(10) để thảo luận về các chiến lược tiêu diệt phe Trục (Đức-Ý-Nhật). Ngày 26, Tổng thống Hoa-kỳ Franklin D. Roosevelt, Thủ tướng Anh Winston L.S. Churchill và Tổng thống Trung-hoa Dân-quốc Tưởng Giới-thạch đã ký một bản tuyên cáo chung (thường được gọi là Tuyên Cáo Cairo) trong đó có một đoạn như sau:


"Đối tượng của các nước này [tức là của ba nước Đồng minh] là phải tước bỏ quyền của Nhật-bản trên tất cả các đảo ở Thái-bình-dương mà nước này đã cưỡng đoạt hay chiếm đóng từ khi có trận Thế Chiến thứ I năm 1914 và tất cả các lãnh thổ Nhật-bản đã cướp của người Trung-quốc, như là Mãn-châu, Đài-loan và Bành-hồ, phải được hoàn trả Trung-hoa Dân-quốc. Nhật-bản cũng sẽ phải bị trục xuất khỏi các lãnh thổ khác đã chiếm được bằng võ lực và lòng tham."(11)


Đọc đoạn trích dẫn trên chúng ta thấy Tuyên Cáo Cairo có hai qui định quan trọng.

Thứ nhất, chỉ có các đất Mãn-châu, Đài-loan và Bành-hồ được qui hoàn cho Trung-quốc thôi.

Thứ hai, còn các lãnh thổ khác mà Nhật-bản chiếm được thì bản tuyên cáo này chỉ qui định việc trục xuất Nhật-bản, chứ không hề nói tới việc qui hoàn chúng cho Trung-quốc.

Điều đáng tiếc, và đó cũng là nguyên nhân gây ra những vụ tranh chấp về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa sau này, là Tuyên Cáo Cairo đã không nói các lãnh thổ khác ấy phải được qui hoàn cho nước nào.

Quyết định của Tuyên Cáo Cairo đã được Tổng Thư ký đảng Cộng sản Liên-sô Joseph V. Stalin tán thành. Trong một bữa ăn trưa công tác giữa ông, Tổng thống Roosevelt và Thủ tướng Churchill tại Tòa Đại sứ Liên-sô ở Tehran (Ba-tư) ngày 30.11.1943, khi Churchill hỏi ông đã đọc bản Tuyên Cáo Cairo chưa thì Stalin cho biết ông đã đọc rồi và còn nói thêm là mặc dù ông không thể cam kết điều gì, ông hoàn toàn tán thành bản tuyên cáo và tất cả những điều nói trong đó. Ông cho hay việc hoàn Mãn-châu, Đài-loan và Bành-hồ lại cho Trung-quốc là phải(12). Ngoài ra, Stalin hoàn toàn không hề nói gì đến hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa.

Một năm rưỡi sau, quyết định của tam cường tại Hội nghị Cairo được tái xác nhận trong một hội nghị thượng đỉnh tam cường khác nhóm tại Potsdam từ 17.7 đến 2.8. 1945 để ấn định các điều kiện cho Nhật-bản đầu hàng. Tổng thống Hoa-kỳ, Thủ tướng Anh(13) và Tổng thống Trung-hoa Dân-quốc đã ra một tuyên ngôn (thường gọi là Tuyên Ngôn Potsdam) ngày 26.7.1945 trong đó có ghi là "Các điều khoản của bản Tuyên Cáo Cairo sẽ được thi hành." (14)

Tại hội nghị Potsdam này các nhà lãnh đạo tam cường còn đã quyết định chia Đông-dương làm hai khu vực để cho tiện việc giải giới quân đội Nhật-bản đóng tại đây. Vĩ tuyến thứ 16 được chọn làm ranh giới: việc giải giới ở khu vực bắc vĩ tuyến ủy thác cho Quốc quân Trung-hoa (người Trung-quốc gọi là “quốc dân quân”) và ở khu vực phía nam do liên quân Anh-Ấn đảm nhận(15). Vì quần đảo Hoàng-sa nằm ở giữa hai vĩ tuyến thứ 15 và 17 nên việc giải giới quân đội Nhật trú đóng ở đây thuộc thẩm quyền Quốc quân Trung-hoa. Trái lại, việc giải giới ở quần đảo Trường-sa phải do liên quân Anh-Ấn đảm nhận do lẽ quần đảo này nằm giữa hai vĩ tuyến thứ 8 và 12.

Nhật-bản khi đầu hàng đã chịu điều kiện qui định trong bản Tuyên Cáo Cairo và ghi nhận trong Văn Kiện Đầu Hàng ngày 2.9.1945(16). Đồng thời, khi ra lệnh cho quân đội Nhật-bản đang trú đóng ở ngoại quốc đầu hàng và nộp vũ khí cho quân đội Đồng minh, Nhật hoàng Hirohito đã ban hành Tổng Mệnh Lệnh số 1, trong đó điều I khoản (a) qui định là:


"Các tư lệnh Nhật-bản và tất cả lục, hải quân, cùng các lực lượng phụ thuộc ở trên đất Trung-hoa (ngoại trừ Mãn-châu), Đài-loan và Đông-Pháp ở 16 độ bắc vĩ tuyến đầu hàng Đại Nguyên soái Tưởng Giới-thạch."(17)


Việc giải giới quân đội Nhật-bản của Quốc quân Trung-hoa ở bắc vĩ tuyến thứ 16 được coi là bắt đầu từ ngày 9.9.1945, khi Quốc quân Trung-hoa do Tướng Lư-Hán chỉ huy tiến vào thành phố Hà-nội để thi hành nhiệm vụ này và chấm dứt vào cuối tháng 8 năm 1946 khi đội quân chiếm đóng Trung-quốc cuối cùng rời khỏi Việt-nam(18) sau khi Bộ trưởng Ngoại giao Trung-hoa Dân-quốc Vương Thế-kiệt đã cùng Đại sứ Pháp tại Trung-hoa Dân-quốc Jacques Meyrier ký “Thỏa Ước Về Việc Pháp Khước Từ Trị Ngoại Pháp Quyền và Các Quyền Liên Hệ Khác ở Trung-quốc” ngày 28.2.1946, theo đó Trung-hoa Dân-quốc nhường lại quyền giải giới quân đội Nhật-bản cho quân đội Pháp(19). Tuy nhiên, Bành Phẩm-quang lại viết trong bài "Quần Đảo Nam-sa Tiền Đồn Phòng Thủ Lãnh Hải" rằng:


"Ngày 26.10.1946, hạm đội đặc biệt của Trung-hoa Dân-quốc gồm 4 chiến hạm, mỗi chiếc chở một số đại diện của các bộ và 59 binh sĩ thuộc trung đội độc lập về cảnh vệ của hải quân (tiền thân của thủy quân lục chiến) từ cảng Ngô-tùng xuất phát ngày 29 tháng 10 và ngày 29 tháng 11 thì các tàu Vĩnh-hưng và Trung-kiện mới tới đảo Vĩnh-hưng thuộc quần đảo Tây-sa và đổ bộ lên đây. Ngày 4 tháng 12 chiến hạm Vĩnh-hưng còn đi qua đảo La-bột, đảo Ba-bột v.v., rồi trở lại. Còn hai chiến hạm Thái-bình và Trung-nghiệp đến ngày 9 tháng 12 mới tới quần đảo Nam-sa. Tháng 12 hoàn tất công tác chiếm đóng đảo Thái-bình, ngày 15 tháng 1 chiến hạm Thái-bình tới các đảo Y-thái, Đế-đô, Song-tử, Nam-cực, v.v., rồi trở về. Đến đây công tác chiếm đóng và tiếp thu quần đảo Tây-sa và Nam-sa đã hoàn tất và lần lượt trở về cảng Du-lâm."(20)


Như vậy việc Quốc quân Trung-hoa đổ bộ lên hai quần đảo này, mà cả hai chính phủ Trung-hoa Dân-quốc và Trung-Cộng gọi là "tiếp thu", là một hành vi bất hợp pháp vì nhiều lý do:

a) Theo quyết định của Hội nghị Potsdam, Quốc quân Trung-hoa chỉ có quyền giải giới quân đội Nhật-bản ở trên quần đảo Hoàng-sa chứ không có quyền ở trên quần đảo Trường-sa vốn thuộc thẩm quyền liên quân Anh-Ấn. Chúng tôi không biết và cũng không thấy có tài liệu nào cho hay là liên quân Anh-Ấn hay chính phủ Anh đã ủy thác việc giải giới quân đội Nhật-bản ở đây cho Quốc quân Trung-hoa.

b) Việc giải giới phải thực hiện trước cuối tháng 8/1946. Tuy nhiên Quốc quân Trung-hoa lại đổ bộ quân lính lên hai quần đảo này vào hai tháng 11 và 12 năm 1946 và tháng 1 năm 1947, như thế là đã làm một hành vi xâm lược chứ không phải là hành vi thụ ủy hợp pháp, vì từ tháng 8/1946 hành vi giải giới của Quốc quân Trung-hoa, theo tinh thần thỏa ước Pháp-Hoa ngày 28.2.1946 không còn căn bản pháp lý nữa.

Thực vậy, theo thỏa ước Pháp-Hoa này, có hiệu lực từ ngày 8.6.1946, lãnh thổ của Quốc dân Chính phủ Trung-hoa là Trung-hoa Dân-quốc (nghĩa là Hoa lục và các đảo lân cận) và của Chính phủ Cộng hòa Pháp là Pháp quốc, Algeria, tất cả các thuộc địa, các xứ bảo hộ ở hải ngoại cùng là các thác quản địa của Pháp (theo điều 1). Mặt khác, theo văn thư trao đổi cùng ngày, việc quân đội Pháp thay thế Quốc quân Trung-hoa (lúc đó đang chiếm đóng phần đất Việt-nam ở phía bắc vĩ tuyến thứ 16) để canh giữ tù binh Nhật-bản, duy trì an ninh trật tự, được thực hiện từ ngày 1 đến ngày 15 tháng 3 và chấm dứt trễ nhất là ngày 31 tháng 3.

Trong khi đó, theo Hòa ước Pháp-Hoa do Khâm sai Đại thần triều đình nhà Thanh (1644-1911) là Lý Hồng-chương, Tổng đốc tỉnh Trực-lệ (nay là tỉnh Hà-bắc), ký với đại diện Pháp là Trung tá Hải quân Fournier tại Thiên-tân (nay là thành phố cùng tỉnh) ngày 11.5.1884, Trung-quốc khước bỏ mọi quyền đối với Việt-nam và Việt-nam từ ngày đó trở đi không còn là một thuộc quốc của Trung-hoa nữa. Hòa ước này được tái xác nhận hơn một năm sau trong một hòa ước Pháp-Hoa khác ký ngày 9.6.1885.

Mặt khác, sau khi Thế chiến thứ II chấm dứt, hoàng đế Việt-nam, lúc đó là Bảo-đại, ngày 11.3.1945 đã tuyên bố hủy bỏ tất cả các hiệp ước bảo hộ Pháp-Việt và tuyên bố Việt-nam độc lập. Nền độc lập của Việt-nam được tái xác nhận ngày 2.9.1945 sau khi Đảng Cộng sản Việt-nam nắm chính quyền (ngày 19.8.1945). Chính nước Pháp cũng công nhận nền độc lập của Việt-nam trong điều 1 của Tạm Ước Pháp-Việt ký ngày 6.3.1946. Nói cách khác, kể từ 11.3.1945 trở đi lãnh thổ của nước Việt-nam độc lập gồm giải đất từ ải Nam-quan đến mũi Cà-mâu và các đảo phụ thuộc Việt-nam ở ngoài khơi, kể cả hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa.

Như vậy đối với cả Pháp lẫn Trung-quốc, Việt-nam không phải là thuộc quốc của nước nào cả.

Do đó, việc "tiếp thu" hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa của Quốc quân Trung-hoa mà Bành Phẩm-quang báo cáo kể trên, dù là để thi hành quyết định của các quốc gia đồng minh trong trận Thế Chiến thứ II, đúng là một hành vi bất hợp pháp, trái với các nguyên tắc căn bản của luật quốc tế. Nó đã vi phạm đến chủ quyền của nước Việt-nam độc lập, cho dù khi đó Việt-nam chưa phải là một quốc gia hội viên của Liên-hiệp-quốc.

c) Bản Tuyên Cáo Cairo và Tuyên Ngôn Potsdam hoàn toàn không đề cập tới vấn đề trao hoàn cho Trung-quốc hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa mà Nhật-bản cưỡng chiếm vào đầu trận Thế chiến thứ II. Sự thiếu sót này có phải là do các nhà lãnh đạo đồng minh sơ ý hay quên không?

Lẽ dĩ nhiên là không. Trái lại, chúng ta phải giải thích là vì các vị ấy đã không quan niệm hai quần đảo này là một phần lãnh thổ của Trung-quốc. Điểm đặc biệt đáng chú ý hơn nữa là chính Tổng thống Trung-hoa Dân-quốc, Đại Nguyên soái Tưởng Giới-thạch, đã tham dự cả hai hội nghị Cairo và Potsdam và đã ký vào cả Tuyên Cáo Cairo lẫn Tuyên Ngôn Potsdam, chứ không phải một người đại diện nào khác để bảo là có thể đã không thi hành đúng chỉ thị của chính phủ Trung-hoa Dân- quốc. Nếu hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa thực sự thuộc chủ quyền của Trung-quốc thì không có lý gì họ Tưởng chỉ đòi trao hoàn có Mãn-châu, Đài-loan và Bành-hồ thôi mà lại không đòi luôn cả Hoàng-sa và Trường-sa. Hơn nữa, trong bản văn của Tuyên Cáo Cairo và Tuyên Ngôn Potsdam chúng ta cũng không thấy từ "vân vân" để có thể nói là vấn đề đã dược bao hàm trong hai văn kiện này.

Mười hai năm sau khi tham dự Hội nghị Cairo và ký bản Tuyên Cáo, ngày 8.2.1955 Tổng thống Tưởng Giới-thạch vẫn còn nhắc lại là:


"Trong thông cáo công bố vào lúc bế mạc hội nghị, chúng tôi đã tuyên bố là tất cả các lãnh thổ do Nhật-bản 'cướp' của Trung-quốc, kể cả Đông-bắc tỉnh, Đài-loan và Bành-hồ phải được trao hoàn lại cho Trung-hoa Dân-quốc. Lời tuyên bố này đã được bản Tuyên Ngôn Potsdam công nhận và Nhật-bản chấp nhận khi nước này đầu hàng."(21)


Một lần nữa, ông hoàn toàn không nói gì đến việc phải trao hoàn hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa cho Trung-quốc. Vào lúc ông nói lời trên ông không phải là không biết đã có sự tranh chấp về chủ quyền đối với hai quần đảo này mà cả hai chính phủ của ông và của Mao Trạch-đông đang đòi.

d) Việc giải giới quân đội Nhật-bản ở Hoàng-sa và Trường-sa không thể hiểu là tiếp thu hay thu hồi được. Hai hành động này có bản chất khác nhau.

Giải giới chỉ có nghĩa là tước bỏ tất cả vũ khí của một đội quân nào để cho đội quân ấy không thể dùng vào việc chiến tranh được nữa. Dù việc giải giới đó được thực hiện trên phần lãnh thổ của một nước khác với nước có phận sự giải giới nó cũng không thể là lý do để cho nước giải giới chiếm lãnh thổ này được, trừ phi trong hiệp định ủy thác việc giải giới có qui định thêm cho phép nước giải giới được chiếm lấy lãnh thổ đó. Ngược lại, tiếp thu hay thu hồi ngụ ý chỉ nước làm công việc này tiếp nhận lại phần lãnh thổ của mình trước đó đã bị một nước khác chiếm đoạt.

Như chúng ta đã biết, cả Tuyên Cáo Cairo lẫn Tuyên Ngôn Potsdam chỉ cho phép Trung-hoa Dân-quốc giải giới quân đội Nhật-bản ở quần đảo Hoàng-sa thôi, chứ không hề cho phép Trung-hoa Dân-quốc thu hồi quần đảo này cùng là giải giới quân đội Nhật-bản ở quần đảo Trường-sa hay thu hồi quần đảo ấy. Vì thế việc chiếm đóng, mà Bành Phẩm-quang gọi là “thu hồi”, hai quần đảo này của Trung-hoa Dân-quốc là một hành vi bất hợp pháp và vi phạm trầm trọng luật quốc tế vì đi trái với quyết định của Tuyên Cáo Cairo và Tuyên Ngôn Potsdam.

Vì các lý do vừa kể trên, chúng ta phải nhìn nhận rằng lời tuyên bố ngày 15.8.1951 của Châu Ân-lai đã mâu thuẫn với lời tuyên bố ngày 4.12.1950 cũng của họ Châu. Một đằng Trung-Cộng đòi các quốc gia phải tuân theo hai văn kiện quốc tế trên và các chính sách căn bản đối với Nhật-bản sau khi nước này đầu hàng, trong đó việc chia đôi Đông-dương để giải giới quân đội Nhật-bản đóng tại đây cũng là một chính sách căn bản, một đằng lại cho việc tiếp thu hai quần đảo không hề được qui định trong hai văn kiện quốc tế là một hành vi hợp pháp.

Thứ ba, Trung-Cộng coi bất cứ một hòa ước nào ký với Nhật-bản mà không có sự tham dự của Trung-Cộng vào việc chuẩn bị, soạn thảo và ký kết là bất hợp pháp và vô hiệu.

Hòa ước Cựu-kim-sơn ngày 8.9.1951 ký với Nhật-bản có phải là một hòa ước bất hợp pháp và vô hiệu không?

Theo định nghĩa của luật quốc tế, một hiệp ước bị coi là bất hợp pháp khi nào nó nhằm theo đuổi một đối tượng vô luân, khi nào nó tạo ra những nghĩa vụ bất hợp pháp trái với các nguyên tắc của luật quốc tế đã được mọi quốc gia công nhận, trái với nhân quyền, trái với các nguyên tắc căn bản của Hiến chương Liên hiệp quốc, hoặc giả một hiệp ước mà sự thi hành sẽ tạo nên một bất công pháp lý cho một quốc gia đệ tam, hoặc khi nó được ký kết bất xứng hay mâu thuẫn với các nghĩa vụ của hiệp ước có trước mà tất cả hay một trong các nước kết ước đã ký(22). Chính Trung-Cộng cũng chấp nhận giải thích này, và quan điểm của Trung-Cộng đã được hai học giả luật quốc tế nổi tiếng Trung-quốc là Thiệu Kim-phủ và Trần Thể-cường trình bày trong hai bài biên khảo.

Khi bàn về Hòa ước Cựu-kim-sơn, Trần Thể-cường trong bài "Đài-loan
Một Lãnh Thổ Trung-quốc" đã nhắc lại một nguyên tắc của luật quốc tế là "một quốc gia có bổn phận không được ký các hiệp ước nào không phù hợp với các nghĩa vụ của các hiệp ước có trước. Việc ký kết những hiệp ước như vậy là một hành vi bất hợp pháp không thể tạo nên những kết quả hợp pháp có lợi cho quốc gia vi phạm luật."(23)

Mặt khác, trong bài "'Lưỡng Cá Trung-Quốc' Mậu Luận Hòa Quốc Tế Pháp Nguyên Tắc"(24), Thiệu Kim-phủ đã viện dẫn lời của L. Oppenheim cho rằng "Hiệp ước phải phù hợp với luật pháp, biểu hiện trong các nguyên tắc của luật quốc tế được công nhận một cách phổ biến cũng như trong các tập tục của các quốc gia"(25) và "các nghĩa vụ mâu thuẫn với các nguyên tắc của luật quốc tế đã được mọi quốc gia công nhận thì không thể là đối tượng của một hiệp ước được."(26) Ngoài ra, ông cũng viện dẫn điều 103 của Hiến chương Liên hiệp quốc nói rằng khi có sự phân tranh giữa các nghĩa vụ của một quốc gia hội viên Liên hiệp quốc theo Hiến chương này và các nghĩa vụ do hiệp ước quốc tế khác tạo nên, nghĩa vụ theo Hiến chương Liên hiệp quốc sẽ ưu thắng. Rồi ông kết luận là hiệp ước nào không phù hợp với Hiến chương Liên hiệp quốc sẽ bị coi là vô hiệu không thể chấp hành được.

Đem áp dụng các định nghĩa nêu trên vào Hòa ước Cựu-kim-sơn, chúng ta thấy các quốc gia ký hòa ước với Nhật-bản là để chấm dứt tình trạng chiến tranh có từ khi xảy ra trận Thế Chiến thứ II, khôi phục địa vị của Nhật-bản trên trường quốc tế, làm giảm tình trạng căng thẳng trên thế giới ngõ hầu xúc tiến việc tạo dựng và duy trì hòa bình trên thế giới, v.v. Như vậy các quốc gia này đã tuân thủ các nguyên tắc căn bản của Hiến chương Liên hiệp quốc và theo đuổi một đối tượng cao quý, chứ không phải là vô luân. Riêng đối với Trung-Cộng, nếu muốn, nước này có thể viện cớ không được mời tham dự Hòa hội Cựu-kim-sơn để coi hòa ước không thể chấp hành đối với mình thôi, chứ không thể coi nó là hòa ước bất hợp pháp và vô hiệu được.

Ngược lại, đứng về phương diện hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa mà nói, chính Trung-Cộng đã có hành vi bất hợp pháp khi nhà cầm quyền Bắc-kinh cổ võ và biện minh cho việc Trung-hoa Dân-quốc đem quân đến chiếm hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa dưới danh nghĩa "tiếp thu."

Thực vậy, điều 2 của Hoà ước Cựu-kim-sơn, sau khi đã nói về việc Nhật-bản từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với tất cả các lãnh thổ nào không phải là lãnh thổ chính của Nhật-bản mà nước này đã chiếm được từ khi có Thế Chiến thứ I cho đến khi chấm dứt trận Thế Chiến thứ II đã qui định thêm trong đoạn (f): "Nhật-bản khước từ mọi quyền, danh nghĩa và đòi hỏi trên quần đảo Trường-sa và quần đảo Hoàng-sa."

Các qui định trong điều 2 như vậy đã theo đúng quyết định của Hội nghị Cairo năm 1943 được diễn tả trong bản Tuyên Cáo Cairo mà Trung-Cộng vẫn luôn đòi phải được coi là căn bản chính cho một hòa ước ký với Nhật-bản đã nói ở bên trên. Nói cách khác, chính Trung-Cộng đã coi quyết định của các đại cường là hợp lý, hợp tình và hợp pháp.

Về giá trị của bản Tuyên Cáo Cairo và Tuyên Ngôn Potsdam, cả hai phe Quốc và Cộng Trung-hoa đều nhìn nhận là có hiệu lực. Chúng ta có thể nêu ra vài thí dụ.

Về phía Trung-hoa Dân-quốc, ngày 8.2.1955, khi duyệt xét tình hình thế giới, Tổng thống Tưởng Giới-thạch, đã nói như sau:


"Tôi còn nhớ rằng năm 1945, cố Tổng thống Hoa-kỳ Roosevelt và đương kim Thủ tướng Anh Churchill đã cùng tôi họp hội nghị ở Cairo để thảo luận về các vấn đề liên quan tới việc tiến hành chiến tranh chống Nhật-bản và hậu quả của nó. Trong thông cáo công bố vào lúc bế mạc hội nghị, chúng tôi đã tuyên bố là tất cả các lãnh thổ do Nhật bản 'cướp' của Trung-quốc kể cả Đông-bắc tỉnh, Đài-loan và Bành-hồ phải được trao hoàn cho Trung-hoa Dân-quốc. Lời tuyên bố này đã được bản Tuyên ngôn Potsdam công nhận và Nhật-bản chấp nhận khi nước này đầu hàng. Như vậy giá trị của nó, tức là của bản Tuyên Cáo Cairo, dựa trên một số thỏa thuận và không ai có thể hoài nghi được...

"Có người phủ nhận giá trị của bản Tuyên Cáo Cairo ... Nếu người ta có thể phủ nhận giá trị của bản Tuyên Cáo Cairo, thì bản Tuyên Ngôn Potsdam và tất cả các hiệp ước, thỏa ước quốc tế được ký kết từ khi chấm dứt Thế Chiến thứ II sẽ ra sao? Có thể phủ nhận giá trị của những văn kiện này được không? Nếu như các nước dân chủ không thừa nhận bản Tuyên Cáo Cairo mà chính họ đã ký kết thì làm thế nào mà bây giờ hay trong tương lai họ có thể chỉ trích khối Cộng sản xâm lăng xé bỏ các hiệp ước, thỏa ước được?..." (27)


Mặt khác, về quan điểm của Bắc-kinh đối với vấn đề giá trị của hai văn kiện quốc tế quan trọng này, chúng ta đã thấy: (a) khi cuộc tranh luận tại Liên hiệp quốc về địa vị của đảo Đài-loan đang tiến hành, ngày 24.8.1950 nhà cầm quyền Băc-kinh đã gửi một bức công điện cho tổ chức quốc tế này, trong đó có đề cập tới Tuyên Cáo Cairo và Tuyên Ngôn Potsdam coi là "những thỏa ước có ước thúc lực" mà các quốc gia ký kết phải tôn trọng và tuân hành(28); (b) hoặc như qua lời tuyên bố ngày 4.12.1950 của Châu Ân-lai đã dẫn trong một đoạn bên trên; (c) hoặc như trong lời tuyên bố cũng của Châu Ân-lai ngày 15.8.1951 như sau:


"Dù xét về thủ tục mà hòa ước được chuẩn bị hay về nội dung, ta thấy Dự thảo Hòa ước Anh-Mỹ trắng trợn vi phạm các thỏa ước quốc tế quan trọng, mà Anh-Mỹ đều là phe kết ước, như là ... bản Tuyên Cáo Cairo, ... bản Tuyên Ngôn Potsdam ...

"Vi phạm sự thỏa thuận theo bản Tuyên Cáo Cairo và bản Tuyên Ngôn Potsdam, Dự thảo Hòa ước chỉ qui định là Nhật-bản sẽ khước từ các quyền đối với Đài-loan và Bành-hồ...”(29)


Xin mở một dấu ngoặc ở đây. Bên cạnh quan điểm của nhà cầm quyền Bắc-kinh còn có quan điểm của học giả nữa. Chẳng hạn Trần Thể-cường đã viết một bài nhan đề "Đài-loan đích Chủ Quyền Thuộc ư Trung-quốc", trong đó ông đã viết:


"Bản Tuyên Cáo Cairo ... là một văn kiện quốc tế 'ràng buộc các quốc gia đương sự về mặt pháp lý.' Hơn nữa, bản Tuyên Ngôn Potsdam do Trung-quốc, Hoa-kỳ và Anh-quốc ký ngày 26 tháng 7 năm 1945 để thúc Nhật-bản đầu hàng đã tái xác định các nghĩa vụ trong bản Tuyên Cáo Cairo. Bản Tuyên Ngôn Potsdam qui định là 'các điều khoản của bản Tuyên Cáo Cairo sẽ được thi hành.' Câu 'sẽ được thi hành' như vậy chứng tỏ rằng bản Tuyên Cáo Cairo là một văn kiện tạo nên nghĩa vụ quốc tế, chứ không phải chỉ là lời tuyên bố về các ý định của các người ký ...

"Đứng về phương diện học lý của luật quốc tế, hiệu lực ước thúc của bản Tuyên Cáo Cairo, một hiệp ước quốc tế, không thể nào bị nghi ngờ được."(30)


Như vậy là cả hai phe Quốc, Cộng Trung-quốc đều đồng ý là bản Tuyên Cáo Cairo có hiệu lực đối với các quốc gia kết ước. Trung-quốc, một trong những quốc gia đó, có bổn phận phải tuân thủ những điều cam kết. Vì thế, tuy không tham dự việc chuẩn bị, soạn thảo và ký Hòa ước Cựu-kim-sơn, Trung-Cộng không thể nào coi hòa ước này bất hợp pháp được vì lẽ nó đã qui định đúng những quyết định của bản Tuyên Cáo Cairo mà Trung-Cộng vẫn đòi mọi quốc gia kết ước phải tuân theo. Nói cách khác, vì Hòa ước Cựu-kim-sơn là một văn kiện quốc tế nhằm thi hành những quyết định của Hội nghị Cairo 1943, nó cũng phải có hiệu lực như bản Tuyên Cáo Cairo, kể cả đối với Trung-Cộng, vốn tự nhận là "đại diện duy nhất chân chính của nhân dân Trung-quốc."

Hơn một tháng sau khi lên tiếng ngày 15.8.1951 về vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa nói trên, khi bình luận về việc ký Hòa ước Cựu-kim-sơn, trong một thông cáo của Bộ Ngoại giao Bắc-kinh ngày 18.9.1951, Châu Ân-lai không hề nói gì về vấn đề hai quần đảo này cả mà chỉ lập lại lập trường cũ, phủ nhận giá trị và hiệu lực của hòa ước vì đã được ký kết mà không có sự tham dự của Trung-Cộng.(31)

Sự im lặng này càng khó hiểu hơn nữa khi chắc chắn là Trung-Cộng phải biết rằng Hòa hội Cựu-kim-sơn đã bác bỏ đề nghị của phái đoàn Nga-sô đòi trao trả hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa cho Trung-Cộng và về phản ứng của phái đoàn Quốc gia Việt-nam(32).

Thực vậy, ngày 5.9.1951, trong phiên họp khoáng đại hội nghị thứ 2 của Hòa hội Cựu-kim-sơn, đại biểu Nga-sô Andrei A. Gromyko, sau khi chỉ trích tính cách bất hợp pháp và sự vô nghĩa của bản dự thảo hòa ước của Anh-Mỹ để ký với Nhật-bản, đã đưa ra một đề nghị 7 điểm gọi là để hướng dẫn việc ký kết hòa ước thực sự với Nhật-bản. Điểm 6 đề nghị trao trả hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa cho Trung-Cộng. Hai ngày sau, ngày 7.9.1951, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần-văn-Hữu, trưởng phái đoàn Quốc-gia Việt-nam, đã lên tiếng tái xác định chủ quyền của Việt-nam trên hai quần đảo này.

Về đề nghị của Gromyko, chính phủ Bắc-kinh không chính thức lên tiếng. Chỉ có bán nguyệt san Anh-ngữ của Trung-Cộng People's China (Nhân dân Trung-quốc) đã tường thuật lại trong một bài nhan đề "At the San Francisco 'Conference'" (Tại "Hội-nghị" Cựu-kim-sơn), trong đó có ghi điểm 6 của đề nghị của Nga-Sô như sau: "Qui hoàn Đài-loan, quần đảo Bành-hồ (Pescadores), quần đảo Tây-sa và các lãnh thổ Trung-hoa khác cho nước Cộng hòa Nhân dân Trung-hoa."(33)

Ngoài điểm này ra, bài tường thuật cũng không đả dộng gì đến việc hòa hội bác bỏ đề nghị của Nga-sô và phản ứng của Quốc-gia Việt-nam. Sự im lặng này đáng lạ vì bài tường thuật được viết trong khoảng thời gian giữa các ngày 5.9.1951 (ngày Gromyko nêu đề nghị 7 điểm), ngày 7.9.1951 (ngày trưởng phái đoàn Quốc-gia Việt-nam tái xác định chủ quyền của Việt-nam) và ngày 16.9.1951 (ngày báo phát hành). Như vậy không thể nào Trung-Cộng không biết gì đến phản ứng của Quốc-gia Việt-nam đối với đề nghị của Nga-sô và không có lý nào nhà cầm quyền Bắc-kinh lại quên được, nhất là bài báo nói trên trước khi được in đã phải được nhà cầm quyền Trung-Cộng kiểm duyệt và cho phép in.

Một điểm khác chúng ta cũng nên nhớ là bất cứ một hành vi nào của Quốc- gia Việt-nam (và sau này của Việt-nam Cộng-hòa) đều bị Trung-Cộng theo dõi rất kỹ và, khi thấy thuận tiện, phê bình, chỉ trích rất nặng nề. Nếu quả thực hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa thực sự là của Trung-quốc như cả Bắc-kinh lẫn Đài-bắc vẫn nhiều lần tuyên bố thì việc trưởng phái đoàn Quốc-gia Việt-nam tái xác định chủ quyền trong Hòa hội không thể nào mà không bị Trung-Cộng chỉ trích dữ dội và lên án, đe dọa như sau này Trung-Cộng sẽ làm.

Sự im lặng lại càng trở nên khó hiểu hơn nữa khi trong bản tuyên bố ngày 5.5.1952(34) về hòa ước mà Trung-hoa Dân-quốc đã ký với Nhật-bản ngày 28.4.1952, Châu Ân-lai không nói gì đến hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa, mặc dù hai quần đảo này đã được đề cập tới trong điều 2 của hòa ước như sau:


"Điều 2.- Hai bên nhìn nhận là theo điều 2 Hòa ước với Nhật-bản ký ngày 8 tháng chín năm 1951 tại Cựu-kim-sơn ở Hoa-kỳ, Nhật-bản đã khước từ mọi quyền, danh nghĩa hay đòi hỏi liên quan đến Đài-loan (Formosa) và Bành-hồ (the Pescadores), cũng như quần đảo Trường-sa và Hoàng-sa."(35)


Theo điều khoản này, Nhật-bản chỉ nhắc lại việc khước từ thôi chứ không nói rõ là Nhật-bản qui hoàn hai quần đào này cho Trung-hoa Dân-quốc. Có một sự khác biệt rất lớn giữa hai hành động khước từ và qui hoàn.

Khước từ là một hành động tiêu cực do đó người/nước khước từ nhìn nhận là từ ngày có (hay ký) quyết định khước từ người/nước ấy sẽ không còn bất cứ một thứ quyền hợp pháp nào đối với vật mà người/nước ấy từ bỏ. Tuy nhiên, người/nước này không chuyển giao hay chuyển nhượng vật đó cho một người/nước khác. Trái lại, qui hoàn là một hành động tích cực, có nghĩa là người/nước chiếm hữu một vật gì, dù là chiếm hữu hợp pháp hay là bất hợp pháp, trả vật đó lại cho sở hữu chủ hợp pháp của nó. Sở hữu chủ của vật được qui hoàn là đối tượng xác định của hành động qui hoàn.

Vì mục đích của chúng tôi trong bài biên khảo này chỉ là tìm hiểu các luận cứ của Trung-quốc về vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa thôi nên chúng tôi không tìm hiểu nguyên nhân sự im lặng của Trung-Cộng.


Bookmark bài viết này:  del.icio.us  yahoo! myweb  Google  Windows Live  stumbleupon

Copyright © 2007
Designed by CA-Group
All rights reserved

Những tài liệu trên trang web này có bản quyền thuộc VIN. Ngoài những tài liệu đã ghi rõ nguồn gốc xuất xứ, tất cả những tài liệu trên trang web này là công trình của các thành viên tham gia mà chưa từng công bố hoặc xuất bản ở một nơi nào khác. Các tác giả giữ bản quyền bài viết của chính mình và có toàn quyền gửi các bài viết của mình tham dự hội nghị hoặc đăng trên các tạp chí khác. Nghiêm cấm mọi hình thức sao chép, lưu trữ và sử dụng tài liệu trên trang web ngoài mục đích giáo dục. Mọi trích dẫn đều phải ghi rõ nguồn: http://www.vinavigation.net. Mọi thư từ liên hệ xin gửi về webmaster@vinavigation.net. Bản quyền © 2007-2008 VIN. Copyright © 2007-2008 VIN.