|
| |
| Phản ứng của Trung Quốc đối với việc Phi Luật Tân đòi chủ quyền trên Quần đảo Trường Sa (1956) |
III. PHẢN ỨNG CỦA TRUNG-QUỐC ĐỐI VỚI VIỆC PHI-LUẬT-TÂN LẠI ĐÒI CHỦ QUYỀN TRÊN QUẦN ĐẢO TRƯỜNG-SA (1956)
Sau khi hòa hội Cựu-kim-sơn bế mạc, cả Trung-Cộng lẫn Đài-loan không có dịp nào để lên tiếng về vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa cho tới năm 1956 khi Phi-luật-tân lên tiếng đòi chủ quyền trên quần đảo Trường-sa.
Nguyên trong hai năm 1949 và 1950, Tomas Cloma, chủ một đội ngư thuyền và thương thuyền và giám đốc một trường hàng hải(36) đã khám phá thấy một nhóm đảo lớn nhỏ ở cách đảo Palawan của Phi-luật-tân(37) khoảng 400 dặm về phía tây. Ông hy vọng lập một nhà máy nước đá và một nhà máy đóng đồ hộp ở trên một hòn đảo lớn nhất ở đây, cũng như là khai thác phân chim trong những hòn đảo kế cận.
Tuy nhiên, mãi đến đầu năm 1956 Cloma mới lại tiếp tục khám phá những hòn đảo này trong một chuyến du hành 38 ngày. Ngày 15.3.1956, chiếc tàu PMI IV (vẫn được dùng để huấn luyện các sinh viên trường hàng hải của Cloma) do thuyền trưởng Filemon Cloma, em trai Tomas Cloma, điều khiển đã lên đường ra các hòn đảo này(38). 40 thủy thủ trên tàu, tất cả đều có quốc tịch Phi-luật-tân, đã dựng quốc kỳ Phi-luật-tân trên một hòn đảo và chính thức tuyên bố chiếm hữu đảo này theo tục lệ quốc tế. Tại mỗi hòn đảo họ tới chiếm đóng, họ đều niêm yết cáo thị chiếm hữu. Họ đặt tên những hòn đảo ở đây, tất cả có 53 đảo và cù lao với diện tích tổng cộng 64.976 dặm vuông, là "Freedomland" hay Đất Tự-do(39).
Ngày 15.5.1956 Tomas Cloma chính thức thông báo cho Phó Tổng thống kiêm Ngoại trưởng Phi-luật-tân Carlos P. Garcia hay là một số công dân Phi-luật-tân đã quan sát, trắc lượng và chiếm hữu "một lãnh thổ ở Nam-hải, bên ngoài hải phận Phi-luật-tân và không thuộc thẩm quyền quản hạt của nước nào."(40) Cloma cũng nói thêm là lãnh thổ này đã được Cloma và các đồng sự tuyên bố chiếm hữu.
Mặt khác, Cloma đã gửi "cáo thị" về việc chiếm hữu này tới báo chí trong và ngoài nước, yêu cầu đăng tải theo thủ tục luật quốc tế. Cáo thị nhấn mạnh là sự tuyên bố này căn cứ vào quyền khám phá và/hay chiếm hữu công khai.
Sáu ngày sau, ngày 21.5.1956, Cloma gửi một bức thư thứ nhì cho Bộ Ngoại giao Phi-luật-tân để thông báo cho Chính phủ Phi-luật-tân hay là lãnh thổ mà ông tuyên bố chiếm hữu được đặt tên là "Freedomland." Kèm theo thư là danh sách các đảo và cù lao. Trong thư Cloma còn nói thêm là:
"Kính xin lưu ý là sự tuyên bố này do 'các công dân Phi-luật-tân' làm chứ không phải là 'nhân danh Chính phủ Phi-luật-tân' bởi vì chúng tôi không được phép làm như vậy. Tuy nhiên việc này sẽ có hậu quả là lãnh thổ trở thành một phần của Phi-luật-tân. Vì lý do đó chúng tôi hy vọng và thỉnh cầu Chính phủ Phi-luật-tân ủng hộ cùng là bảo vệ sự tuyên bố của chúng tôi và xin cũng đừng đưa một tuyên bố nào khác ra Liên hiệp quốc để tránh khỏi khuyến khích, xúi giục sự phản đối của các nước khác."(41)
Sau đó Cloma chính thức tuyên cáo thành lập một chính quyền riêng biệt cho quần đảo Freedomland và gửi một bản tuyên cáo về việc thành lập chính quyền này cho Ngoại trưởng Phi-luật-tân ngày 6.7.1956. Bản tuyên cáo còn yêu cầu Phi-luật-tân cho quần đảo hưởng qui chế bảo hộ.
Vấn đề rắc rối thêm khi Ngoại trưởng Phi-luật-tân trong thư trả lời Cloma đã viết:
"Về phần Bộ Ngoại giao, thiểm Bộ coi các đảo, cù lao, ám sa san-hô, thiển than và các bãi cát bao gồm ở trong vùng mà ông mệnh danh là "Freedomland", ngoại trừ nhóm 7 hòn đảo mà quốc tế thường gọi là quần đảo Spratly, là đất vô chủ, có cái mới nổi lên, có cái đã được ghi chú trên bản đồ quốc tế chưa thám sát và sự hiện hữu đáng nghi ngờ, và tất cả đều chưa có ai tới chiếm hữu, chưa có ai cư ngụ; nói một cách khác, điều đó có nghĩa là mọi công dân Phi-luật-tân có quyền tự do khai thác kinh tế và lập nghiệp như công dân bất cứ quốc gia nào khác, ngày nào mà chủ quyền chuyên hữu của bất cứ quốc gia nào trên những đảo này không được thiết lập theo các nguyên tắc vẫn được luật quốc tế chấp nhận hay được cộng đồng các quốc gia thừa nhận.
"Còn về nhóm 7 hòn đảo mà quốc tế thường gọi là quần đảo Spratly, Chính phủ Phi-luật-tân coi những đảo này như là ở trong chế độ giám hộ trên thực tế của các quốc gia đồng minh thắng trận Thế chiến thứ 2 do kết quả của Hòa ước mà Nhật-bản ký tại Cựu-kim-sơn ngày 8.9.1951 theo đó Nhật-bản khước từ mọi quyền, danh nghĩa và đòi hỏi trên quần đảo Spratly và quần đảo Paracel và cho tới nay các quốc gia đồng minh chưa có một dàn xếp đất đai nào về hai quần đảo này. Vì thế ngày nào mà nhóm các đảo đó còn ở trong tình trạng này, mọi công dân hay nhân viên các quốc gia đồng minh có quyền khai thác kinh tế và lập nghiệp trên căn bản bình đẳng cơ hội và đối đãi về các vấn đề xã hội, kinh tế và thương mại liên quan tới hai quần đảo này.
"Phi-luật-tân là một trong những quốc gia đồng minh đã đánh bại Nhật-bản trong trận Thế Chiến thứ 2 và cũng là quốc gia ký Hòa ước Nhật-bản đã nói bên trên.
"Về phương diện vị trí địa dư của những hòn đảo và cù lao trong ‘Freedomland’, vì chúng kế cận biên giới lãnh thổ Phi-luật-tân về phía tây, vì những quan hệ lịch sử và địa chất của chúng đối với quần đảo Phi-luật-tân, vì giá trị chiến lược lớn lao của chúng đối với nền quốc phòng và an ninh của chúng ta, ngoài tiềm năng kinh tế đáng kể về ngư nghiệp, sản phẩm san hô, hải sản và phốt-phát, chắc chắn là Chính-phủ Phi-luật-tân không coi thường sự khai thác kinh tế và lập nghiệp của các công dân Phi-luật-tân tại những nhóm đảo và cù lao này ngày nào họ còn theo đuổi những mục đích hợp pháp."(42)
Ngoài ra, trong một buổi họp báo tại Manila ngày 19.5.1956, ông Carlos Garcia cũng tuyên bố là một nhóm đảo ở Nam-hải, kể cả đảo Thái-bình và đảo Trường-sa, đúng lý ra phải thuộc về Phi-luật-tân vì chúng kế cận nước này.
Các sự kiện và lời tuyên bố này đã tạo ra phản ứng mãnh liệt trên thế giới. Vì đề tài của bài này, ở đây chúng tôi chỉ đề cập tới phản ứng của Trung-quốc thôi chứ không đề cập tới phản ứng của Việt-nam và của các quốc gia khác.
Ngày 29.5.1956 Bộ Ngoại giao Trung-Cộng đã ra một tuyên bố về vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo, nội dung như sau:
"Theo tin gần đây của một vài hãng thông tấn ngoại quốc Bộ trưởng Ngoại giao Phi-luật-tân Carlos Garcia đã tuyên bố trong một cuộc họp báo là nhóm các đảo ở Nam-hải kể cả đảo Thái-bình và đảo Nam-uy 'đúng ra phải thuộc về Phi-luật-tân vì chúng ở kế cận.' Các báo cáo của các hãng thông tấn ngoại quốc còn tiết lộ thêm là Chính phủ Phi-luật-tân hiện đang tiếp xúc với bè lũ Tưởng Giới-thạch ở Đài-loan mưu toan 'dàn xếp' cái gọi là vấn đề chủ quyền trên quần đảo Nam-sa. Về vấn đề này, Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung-hoa thấy cần phải tuyên bố như sau:
"Đảo Thái-bình và đảo Nam-uy ở Nam-hải nói trên, cùng với những đảo nhỏ ở lân cận đều được gọi chung là quần đảo Nam-sa. Quần đảo này lúc nào cũng là một phần lãnh thổ của Trung-quốc. Nước Cộng hòa Nhân dân Trung-hoa có chủ quyền bất khả tranh nghị và hợp pháp đối với quần đảo này. Ngay từ ngày 15.8.1951, Bộ trưởng Ngoại giao nước Cộng hòa Nhân dân Trung-hoa Châu Ân-lai trong bản Tuyên bố về Dự thảo Hòa ước ký với Nhật-bản của Anh-Mỹ và Hội nghị Cựu-kim-sơn đã long trọng vạch rõ rằng: 'Cũng như toàn thể quần đảo Nam-sa, quần đảo Trung-sa và quần đảo Đông-sa, quần đảo Tây-sa (quần đảo Paracel) và đảo Nam-uy (đảo Spratly) lúc nào cũng là lãnh thổ của Trung-quốc. Mặc dù đã có thời kỳ những đảo này bị Nhật-bản chiếm đóng trong trận chiến tranh xâm lăng do đế quốc Nhật-bản gây ra, sau khi Nhật-bản đầu hàng, Chính phủ Trung-quốc lúc bấy giờ đã thu hồi lại.' Cớ do Chính phủ Phi-luật-tân nêu ra để che đậy ý đồ xâm chiếm lãnh thổ của Trung-quốc, quần đảo Nam-sa, hoàn toàn không thể biện minh được.
"Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung-hoa long trọng tuyên bố: sự xâm phạm chủ quyền hợp pháp của Trung-quốc đối với quần đảo Nam-sa của bất cứ quốc gia nào, vì bất cứ lý do nào, và bằng bất cứ phương tiện nào, cũng tuyệt đối không thể dung thứ được."(43)
Một lần nữa chúng ta thấy bản tuyên bố cũng không nêu ra một chi tiết cụ thể nào để chứng minh chủ quyền của Trung-quốc đối với quần đảo Trường-sa, và cả Hoàng-sa nữa. Vẫn chỉ là sự tái khẳng định chủ quyền đó một cách vu vơ thôi.
Về phía Đài-loan, qua đại sứ của mình ở Manila, chính phủ Trung-hoa Dân-quốc đã phản kháng mạnh mẽ cùng chính phủ Phi-luật-tân và viện vào cớ là quần đảo này thuộc về Trung-quốc từ thế kỷ thứ 15. Chúng tôi rất tiếc không được rõ nội dung sự phản kháng này nên không biết luận cứ của Đài-loan ra sao và căn cứ vào đâu mà Đài-loan cho là chủ quyền đó có từ thế kỷ thứ 15.
Song song với việc phản kháng tại Manila, phát ngôn viên Đài-loan còn loan tin Đài-loan phái một lực lượng đặc nhiệm tới quần đảo Trường-sa "có thể và chắc chắn sẽ xảy ra" và quả thực một hạm đội Đài-loan đã được phái tới nơi trong một thời gian ngắn để ngăn chặn mọi việc không hay xảy ra.
Nhận được tin này, Ngoại trưởng Phi-luật-tân đã vội vàng chỉ thị cho Đại sứ Phi-luật-tân tại Đài-bắc là Narciso Ramos báo cho chính phủ Đài-loan "không nên quá e ngại về diễn biến của tình-hình." Ngoài ra ông cũng loan báo là chính phủ Phi-luật-tân chưa có một thái độ chính thức nào về những lời tuyên bố của Cloma và tuy Phi-luật-tân chưa thăm dò ý kiến với chính phủ Hoa-kỳ về vấn đề này, ông nghĩ là nếu sau này cần có một trung gian hòa giải thì Hoa-kỳ sẽ là "một trọng tài công minh chính trực" vì Hoa-kỳ có quan hệ thân hữu với cả hai nước.
Trong khi đó, ngày 8.6.1956 Cloma lại phái một đoàn thứ 2 mang thực phẩm ra tiếp tế cho 29 thủy thủ đã ở lại quần đảo trong chuyến đi thứ nhất.
Ở đảo Thái-bình, các thủy thủ của Cloma thấy hải quân Đài-loan đã bốc rỡ những mốc bia đánh dấu mà họ dựng lên trên đảo trong chuyến đi thứ nhất và đã dựng một dấu hiệu của Trung-hoa Dân-quốc trên mốc bia cũ của Nhật-bản và cũng vẽ dấu hiệu Trung-hoa trên tường một căn nhà đổ nát vốn trước kia thuộc trại lính Nhật.
Cuộc chạm trán đầu tiên giữa thủy đội của Cloma và hải quân Đài-loan đã xảy ra ngày 1.10.1956. Lúc thuyền trưởng Filemon Cloma đang ở trên tàu PMI IV bỏ neo ở ngoài khơi đảo Ciriaco thì có hai chiếc tàu của Đài-loan từ phía nam tiến lại gần. Thuyền trưởng Cloma được mời lên tàu của Đài-loan để thuơng nghị vớI thuyền trưởng họ Hồ (không tài liệu nào cho rõ tên). Cuộc thảo luận kéo dài 4 tiếng đồng hồ. Sau đó một đoàn hải quân Đài-loan lên tàu của Cloma kiểm soát trong hai tiếng đồng hồ. Họ tịch thu tất cả súng ống, võ khí, bản đồ và các tài liệu trên tàu. Mặc dù có phản kháng, thuyền trưởng Cloma vẫn bị giữ trên tàu mãi đến 9 giờ đêm hôm đó. Hôm sau, thuyền trưởng Cloma lại dược mời lên tàu của Đài-loan. Tuy từ chối không chịu nhận Freedomland là lãnh thổ của Trung-quốc và không chịu ký vào tờ tuyên bố là ông và các thủy thủ sẽ rời Freedomland không bao giờ trở lại, nhưng ông không bị bắt buộc phải nộp võ khí cho các viên-chức Đài-loan. Ngày 3.10.1956 tàu của Đài-loan rời khu vực này.
Nói tóm lại, Bắc-kinh và Đài-bắc đều nhận hai quần đảo Trường-sa và Hoàng-sa là lãnh thổ của Trung-quốc, nhưng cả hai chính phủ Quốc, Cộng Trung-hoa lại vẫn không đưa ra được một bằng chứng cụ thể nào để bênh vực quan điểm của mình mà chỉ biết dùng võ lực để ép người khác phải nhìn nhận quan-điểm của họ. Chính sách sử dụng võ lực này 18 năm sau (năm 1974) đã được Trung-quốc dùng tới một lần nữa, lần này đến phiên Trung-Cộng.
|
Bookmark bài viết này: 
| |