IV. DỊP VIỆT-NAM CỘNG-HÒA BẮT GIỮ NGƯ DÂN TRUNG-CỘNG (1959)
Ngót ba năm sau, năm 1959, một biến cố khác đã xảy ra khiến cho Trung-quốc lại có dịp lên tiếng về vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa.
Đêm ngày 20 rạng ngày 21.2.1959, một đơn vị hải quân Việt-nam Cộng-hòa đóng tại quần đảo Hoàng-sa phát giác thấy Trung-Cộng đã lén đưa một số ngư dân đổ bộ lên các đảo Cam-tuyền (Robert), Duy-mộng (Drummond) và Quang-hòa (Duncan) trong nhóm Nguyệt-thiềm (Crescent) thuộc quần đảo Hoàng-sa với mục đích chiếm quần đảo. Đây không phải là lần đầu Trung-Cộng làm như vậy. Năm 1956 các ngư dân Trung-Cộng đã lén lút đổ bộ lên Lâm-đảo (Wooded Island) và đảo Linh-côn (Lincoln Island), cũng thuộc nhóm Nguyệt-thiềm, và sau được thay thế bằng quân chính qui của Trung-Cộng. Tuy nhiên lần đổ bộ này họ không thành công. Hải quân Việt-nam Cộng-hòa đã ngăn chặn các ngư thuyền của họ và ra lệnh cho họ rút lui. Khi họ từ chối và kháng cự, các lực lượng hải quân Việt-nam Cộng-hòa đã bắt giữ 82 ngư dân và 5 ngư thuyền. Vài bữa sau họ được thả. Ngót một tuần sau, Bắc-kinh mới phản ứng.
Trong một bản tuyên bố ngày 27.2.1959, Bộ Ngoại giao Trung-Cộng vu cáo là hải quân Việt-nam Cộng-hòa đã xâm nhập bất hợp pháp quần đảo Hoàng-sa, bắt cóc 82 ngư dân và chiếm giữ 5 ngư thuyền cùng các tài sản khác của ngư dân Trung-Cộng. Bản tuyên bố còn nói thêm là:
"Quần đảo Tây-sa là một phần lãnh thổ của Trung-quốc. Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung-hoa đã long trọng tuyên bố về sự kiện này ngày 15.8.1951 và ngày 29.5.1956. Nay hải quân Nam-Việt đã vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của Trung-quốc và bắt cóc các ngư dân, ngư thuyền Trung-hoa. Điều này khiến nhân dân Trung-quốc hết sức tức giận.
"Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Nhân dân Trung-hoa long trọng cảnh cáo nhà cầm quyền Nam-Việt phải phóng thích ngay những ngư dân Trung-quốc bị bắt cóc, trao trả tất cả các ngư thuyền và tài sản khác đã bị chiếm mang đi, bồi thường thiệt hại cho những người này và bảo đảm không để cho những việc bất hợp pháp tương tự tái diễn trong tương lai. Nếu không, nhà cầm quyền Nam-Việt sẽ phải chịu trách nhiệm về tất cả các hậu quả."(44)
Bản tuyên ngôn này, cũng như biết bao bản tuyên ngôn trước đó, không hề đưa ra một chi tiết nào để chứng minh Hoàng-sa, và cả Trường-sa nữa, là một phần lãnh thổ của Trung-quốc. Tuy nhiên, bản tuyên bố cũng mang một vài điểm đáng chú ý.
Thứ nhất, khác với những lần tuyên bố trước Trung-Cộng chỉ nói đến chủ quyền của Trung-quốc trên hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa và sự không dung thứ những hành vi nào mà Trung-Cộng cho là vi phạm đến chủ quyền đó thôi, lần này bản tuyên bố đã đe dọa rằng nhà cầm quyền Nam-Việt, một danh từ Trung-Cộng hay dùng để gọi Việt-nam Cộng-hòa, "sẽ phải chịu trách nhiệm về tất cả những hậu quả." Lời đe dọa đó sau này được Trung-Cộng thực hiện bằng việc đánh chiếm quần đảo Hoàng-sa năm 1974.
Thứ hai, Trung-Cộng đã coi việc hải quân Việt-nam Cộng-hòa đóng tại quần đảo Hoàng-sa là xâm nhập bất hợp pháp quần đảo này và vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của Trung-quốc. Tuy nhiên, không phải chỉ đến ngày 20 và 21.2.1959, nghĩa là ngày xảy ra biến cố bắt giữ ngư dân Trung-Cộng, hải quân Việt-nam Cộng-hòa mới tới đồn trú tại đây; trái lại họ đã đồn trú ở đó từ lâu rồi. Một việc quan trọng như vậy, đến độ Trung-Cộng phải ghép vào loại "vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của Trung-quốc" chắc chắn là cả Trung-Cộng lẫn Đài-loan đều phải biết. Trái lại, theo sự nghiên cứu của chúng tôi, cả Trung-Cộng lẫn Đài-loan không hề lên tiếng phản đối việc đồn trú này. Phải đợi đến khi ngư dân Trung-Cộng bị bắt giữ thì Trung-quốc mới có phản-ứng. Hơn nữa, chỉ có nhà cầm quyền Bắc-kinh mới lên tiếng kết tội Việt-nam Cộng-hòa, còn Đài-loan hoàn toàn im lặng, không có một lời tuyên bố, dù là chính thức hay bán chính thúc, về việc hải quân Việt-nam Cộng-hòa đồn trú tại quần đảo Hoàng-sa cũng như về việc bắt giữ ngư dân, ngư thuyền Trung-Cộng.
Thứ ba, Trung-Cộng đã vu cáo hải quân Việt-nam Cộng-hòa "bắt cóc ngư dân, ngư thuyền Trung-quốc." Sở dĩ chúng tôi phải dùng từ "vu cáo" ở đây là vì Trung-Cộng đã dùng từ "bắt cóc" gán ghép cho hành động của hải quân Việt-nam Cộng-hòa.
Theo định nghĩa, "bắt cóc" là tội bắt giữ người một cách bất hợp pháp và di chuyển người đó đi nơi khác. Theo luật quốc nội cũng như luật quốc tế, đây là một hình tội. Muốn bị kết tội bắt cóc, người bắt giữ phải phạm những yếu tố sau đây: cố ý phạm tội, bắt giữ nạn nhân bất hợp pháp, và di chuyển nạn nhân đi chỗ khác.
Cố ý phạm tội nghĩa là người bắt cóc phải đã có ý định bắt cóc nạn nhân trước khi thực hiện ý định đó. Trong việc bắt giữ các ngư nhân Trung-Cộng, hải quân Việt-nam Cộng-hòa không hề có ý định bắt giữ họ từ trước mà chỉ giữ họ lại khi họ không chịu rời khỏi các đảo Can-tuyền, Duy-mộng và Quảng-hòa theo như yêu cầu của hải quân Việt-nam Cộng-hòa thôi.
Bắt cóc là một hành vi bất hợp pháp. Tuy nhiên, nếu người bắt giữ người khác do trách nhiệm, bổn phận của mình trong phạm vi pháp luật cho phép, dù là pháp luật quốc nội hay pháp luật quốc tế, người bắt giữ không làm hành vi bất hợp pháp. Trong vụ bắt giữ ngư dân Trung-Cộng, hải quân Việt-nam Cộng-hòa chỉ thi hành nhiệm vụ của mình là bảo vệ lãnh thổ quốc gia không cho ai được xâm phạm. Đó là một nhiệm vụ mà bất cứ quân nhân nuớc nào trên thế giới, kể cả Trung-Cộng nữa, cũng phải thi hành. Mặt khác, nếu người bắt giữ không chịu thả nạn nhân khi nạn nhân có quyền được thả ra thì mới có thể bị coi là phạm tội bắt cóc. Ở đây, hảị quân Việt-nam Cộng-hòa đã thả các ngư dân Trung-Cộng ngay sau khi đã làm các hành vi thuộc bổn phận của mình nên cũng không thể coi là bắt cóc các ngư dân, ngư thuyền Trung-Cộng. Nói cách khác, họ chỉ bắt giữ theo luật định chứ không bắt cóc.
Ngoài ra, việc bắt cóc ngụ ý chỉ người làm ra hành động này phải giới hạn sự di chuyển của nạn nhân, không cho nạn nhân đi đâu hết. Trái lại, nếu chỉ ngăn chặn không cho nạn nhân tới một chỗ nào vì một lý do hợp pháp nào thì việc đó không phải là bắt cóc. Mặt khác, nếu nạn nhân có cách thoát khỏi sự giam giữ mà không nguy hại đến tính mệnh của mình, việc bắt giữ nạn nhân cũng không thể coi là bắt cóc được. Trong vụ này các ngư dân Trung-Cộng đã được hải quân Việt-nam Cộng-hòa đồn trú tại ba hòn đảo nơi xảy ra biến cố, mà Việt-nam Cộng-hòa cho là phần lãnh thổ của mình và ủy thác cho hải quân Việt-nam Cộng-hòa bảo vệ và canh giữ, để cho tự do đi bất cứ nơi nào khác ngoại trừ đổ bộ lên ba hòn đảo này nếu không có phép của Việt-nam Cộng-hòa. Như vậy khi hải quân Việt-nam Cộng-hòa bắt giữ các ngư dân Trung-Cộng không chịu rút lui khỏi ba đảo, họ không bắt cóc các người đó.
Sau hết, cũng nên nói thêm là Trung-Cộng đã dùng sai từ "bắt cóc". Bắt cóc đòi hỏi việc di chuyển nạn nhân đi một nơi khác với nơi bị bắt giữ và nơi đó không được tiết lộ. Ở đây các ngư dân Trung-Cộng không hề bị hải quân Việt-nam Cộng-hòa di chuyển đi dâu cả, mà chỉ bị ngăn không được lưu lại ba hòn đảo thôi. Hành vi của hải quân Việt-nam Cộng-hòa không thể ghép vào tội bắt cóc được.
Thứ tư, chính quyền Bắc-kinh đòi Việt-nam Cộng-hòa chẳng những là phải "phóng thích ngay những ngư dân Trung-hoa bị bắt cóc" mà còn phải "trao trả tất cả các ngư thuyền và tài sản khác đã bị chiếm mang đi". Chỗ này Trung-Cộng vu cáo quá lố. Hải quân Việt-nam Cộng-hòa chỉ giữ các ngư dân Trung-Cộng và ngư thuyền thôi và không hề lấy một chút tài sản nào khác chứ đừng nói là "chiếm mang đi". Dụng ý của Trung-Cộng ở đây khi vu cáo như vậy là có ý muốn tỏ cho thế giới hay rằng hải quân Việt-nam Cộng-hòa đã có hành động bất hợp pháp của những tên hải tặc chuyên môn đánh cướp trên mặt bể, chứ không phải là hành động hợp pháp của các quân nhân bảo vệ lãnh thổ quốc gia. Tuy nhiên, sự vu cáo này của Trung-Cộng cũng không đáng cho mọi người ngạc nhiên vì Trung-Cộng có thói quen vu cáo và lăng nhục những nước hay những người đối nghịch với Trung-Cộng và thói quen đó đã nổi tiếng trên thế giới.
|