|
| |
| Luận cứ nêu ra trong vụ đụng độ hải quân với Việt Nam Cộng Hòa (1974) |
VI. LUẬN CỨ NÊU RA TRONG VỤ ĐỤNG ĐỘ HẢI QUÂN VỚI VIỆT-NAM CỘNG-HÒA (1974)
Vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa bước sang một giai đoạn mới và quyết liệt vào tháng giêng năm 1974, đưa đến việc giải quyết bằng vũ lực qua một cuộc đụng độ hải quân công khai và trực tiếp giữa Việt-nam Cộng-hòa và Trung-Cộng tại quần đảo Hoàng-sa. Vì là một nước rất nhỏ bé, về địa dư cũng như về nhân số, so với Trung-Cộng, vì không được sự giúp đỡ tận tình của các quốc gia tự nhận là đồng minh của Việt-nam Cộng-hòa, vì bị thế giới làm ngơ, và vì kiệt sức trước cuộc chiến tranh trong nước đã kéo dài ngót 30 năm, Việt-nam Cộng-hòa chỉ chống lại Trung-Cộng được có hai ngày, mặc dù hải lực của Trung-Cộng thua kém và lại không có kinh nghiệm chiến đấu nhiều bằng hải lực của Việt-nam Cộng-hòa, để rồi cuối cùng nhìn thấy quần đảo Hoàng-sa rơi vào tay Trung-Cộng mà hậu quả còn kéo dài tới ngày nay.
Biến cố này xảy ra sau khi chính phủ Việt-nam Cộng-hòa đã quyết định sáp nhập quần đảo Trường-sa vào xã Phước-hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước-tuy, ngày 6.9.1973(50).
Đây không phải là lần đầu tiên hai quần đảo Hoàng-sa và Truòng-sa được sáp nhập vào các đơn vị hành chính nội địa ở Việt-nam. Thực vậy, trong thời Pháp thuộc (1862-1945), ngày 21.12.1933 quần đảo Trường-sa đã được sáp nhập vào tỉnh Bà-rịa(51) và ngày 30.3.1938 quần đảo Hoàng-sa được sáp nhập vào tỉnh Thừa-thiên(52) . Từ khi Việt-nam giành được độc lập khỏi tay thực dân Pháp (năm 1945), quần đảo Hoàng-sa được tổ chức thành xã Định-hải, do một phái viên hành chính cai trị và trực thuộc quận Hoà-vang, tỉnh Quảng-nam ngày 13.7.1961(53), rồi đến ngày 21.10.1969 xã Định-hải (quần đảo Hoàng-sa) sáp nhập vào xã Hòa-long cùng quận Hòa-vang thuộc tỉnh Quảng-nam(54); còn quần đảo Trường-sa được đặt thuộc tỉnh Phước-tuy (tên mới của tỉnh Bà-rịa) ngày 22.10.1956(55).
Tuy nhiên, trong các việc sáp nhập hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa trước đây các chính phủ Trung-quốc không hề lên tiếng phản đối gì cả. Chỉ đến lần cuối cùng, khi nghị định ngày 6.9.1973 chỉ đổi quận trực tiếp quản trị quần đảo Trường-sa, thì cả Bắc-kinh lẫn Đài-bắc mới có phản ứng.
A. Phản Ứng của Trung-Cộng
1. Tuyên Bố Ngày 11.1.1974
Chúng ta không rõ vì lý do gì mà mãi hơn 4 tháng sau khi có việc sáp nhập quần đảo Trường-sa vào quận Đất Đỏ thì Bắc-kinh mới có phản ứng.
Ngày 11.1.1974 Bộ Ngoại giao Trung-Cộng ra một bản tuyên bố(56), mở đầu như sau:
"Cách đây không lâu, nhà cầm quyền Sài-gòn ở Nam-Việt đã trắng trợn loan báo đặt hơn mười đảo thuộc quần đảo Nam-sa của Trung-quốc, kể cả đảo Nam-uy và đảo Thái-bình, dưới quyền quản trị của tỉnh Phước-tuy ở Nam-Việt. Đây là một sự xâm phạm điên cuồng đến sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Trung-quốc."
Sau khi nhắc lại lời tuyên bố đã từng được nói tới nhiều lần là "cũng giống như các quần đảo Tây-sa, Trung-sa và Đông-sa, quần đảo Nam-sa luôn luôn là lãnh thổ của Trung-quốc", bản tuyên bố đã tố cáo đây không phải là lần đầu Việt-nam Cộng-hòa đã có hành động như vậy:
"Trong những năm gần đây nhà cầm quyền Sài-gòn đã gia tăng xâm chiếm vài hòn đảo trong quần đảo Nam-sa và Tây-sa, trong nhiều trường hợp đã ồn ào đòi chủ quyền trên hai quần đảo này, ngay cả dựng các 'bia chủ quyền' trên đó. Giờ đây nhà cầm quyền Sài-gòn lại đi thêm bước nữa, công khai sáp nhập hơn mười đảo, kể cả đảo Nam-uy và Thái-bình, vào ranh giới của mình. Hành động này tạo nên một bước mới nhằm nắm vĩnh viễn quần đảo Nam-sa của Trung-quốc."
Đoạn bản tuyên bố nhắc lại lập trường cũ của Trung-Cộng:
"Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung-hoa nhắc lại ở đây rằng các quần đảo Nam-sa, Tây-sa, Trung-sa và Đông-sa tất cả đều là phần của lãnh thổ Trung-quốc. Nước Cộng hòa Nhân dân Trung-hoa có chủ quyền bất khả tranh nghị trên những quần đảo này."
Sau cùng, bản tuyên bố đã kết luận bằng cách phủ nhận giá trị hành động của Việt-nam Cộng-hòa.
"Quyết định của nhà cầm quyền Sài-gòn đem sáp nhập đảo Nam-uy, Thái-bình và các đảo khác ở quần đảo Nam-sa vào Nam-Việt là bất hợp pháp và vô hiệu lực. Chính phủ Trung-quốc sẽ không bao giờ dung thứ việc xâm phạm đến sự vẹn toàn lãnh thổ và chủ quyền nào do nhà cầm quyền Sài-gòn gây ra."
Bản tuyên bố ngày 11.1.1974 này vẫn không đưa ra bằng chứng nào để chứng minh hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa thuộc về Trung-quốc. Tuy nhiên, bản tuyên bố đó có mấy điểm đáng cho chúng ta chú ý.
Thứ nhất, không giống các lần tuyên bố trước, lần tuyên bố này có giọng gay gắt hơn ("trắng trợn loan báo", "xâm phạm điên cuồng", "ồn ào đòi chủ quyền") như báo hiệu trước những biện pháp mạnh Trung-Cộng sẽ dùng tới.
Thứ hai, trong những bản tuyên bố trước Trung-Cộng chỉ nói đến việc các nước vi phạm chủ quyền lãnh thổ của Trung-quốc thôi, lần này Trung-Cộng lại vu cáo rằng Việt-nam Cộng-hòa gia tăng xâm chiếm hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa trong mưu đồ nắm vĩnh viễn hai quần đảo này. Sự vu cáo đó dường như nhằm đánh lạc hướng dư luận quốc tế, qui tội xâm lăng cho Việt-nam Cộng-hòa trước, để cho việc đánh chiếm hai quần đảo này của Trung-Cộng sau này trở nên hợp pháp, nghĩa là muốn chứng minh Trung-Cộng chỉ dùng võ lực để bảo vệ lãnh thổ và chủ quyền của mình thôi.
Nhận xét trên đã được chứng minh rõ ràng sau ngày 19 và 20.1.1974. Khi Trung-Cộng cưỡng chiếm quần đảo Hoàng-sa, thế giới đã hoàn toàn im lặng, không một nước nào lên tiếng. Ngay cả Liên-hiệp-quốc, một tổ chức quốc tế có bổn phận duy trì an ninh thế giới, cũng giữ thái độ im lặng khó hiểu. Ngoài ra, sau biến cố này Việt-nam Cộng-hòa tính đưa nội vụ ra trước Liên-hiệp-quốc và chuẩn bị hồ sơ kiện tại Toà Án Quốc Tế, nhưng một số nước vẫn nhận là đồng minh của Việt-nam Cộng-hòa đã tìm cách ngăn cản để cho Việt-nam Cộng-hòa không thể làm được việc này. Đấy là chưa kể vào thời gian xảy ra vụ Trung-Cộng cưỡng chiếm quần đảo Hoàng-sa, Đệ Thất Hạm Đội của Hoa-kỳ đang tuần tiễu và hoạt động ở quanh vùng biển Đông, gọi là để bảo vệ Việt-nam Cộng-hòa, cũng không có một phản ứng nào trước hành động của Trung-Cộng. Đúng là một sự toa rập quốc tế!
Thứ ba, từ năm 1956 trở đi, mỗi khi nói đến chủ quyền của Trung-quốc trên hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa, Trung-Cộng bao giờ cũng dùng từ "chủ quyền bất khả tranh nghị và hợp pháp" hay "chủ quyền hợp pháp". Tuy nhiên trong lần tuyên bố ngày 11.1.1974 này, và cả những lần sau đó như chúng ta sẽ thấy, Trung-Cộng chỉ nói tới "chủ quyền bất khả tranh nghị" hay "chủ quyền bất khả xâm phạm" thôi, chứ không còn dùng từ "hợp pháp" nữa. Có lẽ Trung-Cộng đã yên chí là thế giới đã mắc phải bả tuyên truyền của mình rồi nên thấy không cần dùng từ này nữa!
Thứ tư, lần đầu tiên Trung-Cộng đã công khai bộc lộ nguyên nhân thầm kín, và cũng là nguyên nhân chính yếu, thúc đẩy việc tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa: đó là nguồn tài nguyên thiên nhiên ở vùng này. Thực vậy, bản tuyên bố ngày 11.1.1974 có câu:
"Các tài nguyên thiên nhiên trong các vùng biển quanh các quần đảo này cũng thuộc về Trung-quốc."
Điểm đáng chú ý ở đây là sự sử dụng chữ của Trung-Cộng. Bản tuyên bố không nói là những tài nguyên thiên nhiên trên các quần đảo này mà lại nói tới "những tài nguyên thiên nhiên trong các vùng biển quanh các quần đảo này" cũng thuộc về Trung-quốc. Như vậy, Trung-Cộng cố đòi cho kỳ được chủ quyền đối với Hoàng-sa và Trường-sa không phải chỉ vì chỗ phân chim, phốt-phát hay các tài nguyên khác tìm thấy trên hai quần đảo mà chính là nhằm vào những túi dầu có ở quanh hai quần đảo đương tranh. Đây mới là động lực chính thúc đẩy Trung-cộng ra tay hành động mạnh.
Tưởng cũng cần nhắc lại là Trung-Cộng chỉ lên tiếng với các lời lẽ gay gắt hơn và sau này đi đến hình thức tranh chấp cực đoan hơn bằng cách dùng đến võ lực để chiếm quần đảo Hoàng-sa, sau khi mấy công ty dầu ngoại quốc đã ký giao kèo khai thác dầu ở ngoài khơi Việt-nam với chính phủ Việt-nam Cộng-hòa. Giả thử quanh hai quần đảo này không có các túi dầu quan trọng thì chưa chắc Trung-Cộng đã làm gì, có lẽ vẫn giữ nguyên thái độ cũ là chỉ tuyên bố, đe dọa suông như mọi lần, chứ không đánh chiếm quần đảo Hoàng-sa. Vì vậy chúng ta có thể nói mà không sợ bị sai lầm là chính vì các túi dầu của Việt-nam Cộng-hòa mà Trung-Cộng đã ra tay.
2. Tuyên Bố Ngày 20.1.1974
Tuy nhiên bản tuyên bố ngày 11.1.1974 mới chỉ là màn giáo đầu. Tám ngày sau đã xảy ra một cuộc hải chiến hai ngày (19 và 20.1.1974) tại vùng quần đảo Hoàng-sa giữa Việt-nam Cộng-hòa và Trung-Cộng. Điều chúng ta thắc mắc không hiểu là tại sao Trung-Cộng không ra tay chiếm luôn cả hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa hoặc nếu chỉ muốn chiếm một quần đảo thì tại sao không chiếm quần đảo Trường-sa mà lại chọn quần đảo Hoàng-sa. Phải chăng vì quần đảo Hoàng-sa ở gần hải phận Việt-nam Dân-chủ Cộng-hòa (Bắc-Việt) hơn nên các cuộc hành quân của Trung-Cộng không bị trở ngại và còn được Bắc-Việt chống lưng cho hơn là một cuộc hành quân ở quần đảo Trường-sa nằm mãi sâu xuống phía nam và gần hải phận của Việt-nam Cộng-hòa? Hay phải chăng vì ngoài Việt-nam Cộng-hòa ra còn có cả Phi-luật-tân cũng đòi chủ quyền đối với quần đảo Trường-sa (đấy là chưa kể Đài-loan) mà lúc đó Trung-Cộng thấy chưa phải là lúc đối đầu với Phi-luật-tân?
Dù sao thì, sau khi có trận hải chiến ở vùng Hoàng-sa ngày 20.1.1974, Bộ Ngoại giao Trung-Cộng đã tung ra một bản tuyên bố khác(57). Bản tuyên bố này rất quan trọng vì đã đề cập tới một số dữ kiện không hề nói tới trong những bản tuyên bố trước. Chúng ta sẽ lần lượt cứu xét những dữ kiện đó.
Trước hết, theo đường lối vu khống cố hữu của Trung-Cộng, bản tuyên bố ngày 20.1.1974 đã che dấu sự thật và vu cáo là hải quân và không quân Việt-nam Cộng-hòa đã có hành động trước như là: (a) tấn công các ngư thuyền của Trung-Cộng và chiếm hai đảo trong quần đảo Hoàng-sa ngày 15.1.1974; (b) tấn công các đảo khác ngày 19.1.1974; và (c) bắn vào các chiến hạm Trung-Cộng đang đi tuần tiễu. Rồi để biện minh hành động quân sự của mình, nhà cầm quyền Trung-Cộng đã tuyên bố:
"Vì bị đẩy tới quá mức chịu đựng nên các đơn vị hải quân, ngư dân và dân binh của chúng ta [tức là của Trung-Cộng] mới anh dũng chống trả để tự vệ và trừng phạt đích đáng quân địch xâm lăng."
Sau khi vu cáo "nhà cầm quyền Sài-gòn ở Nam-Việt đã từ lâu định xâm chiếm hai quần đảo Tây-sa và Nam-sa của Trung-quốc" và nhắc lại việc Việt-nam Cộng-hòa sáp nhập hơn mười đảo thuộc quần đảo Trường-sa như đã nói tới trong bản tuyên bố ngày 11.1.1974, Bộ Ngoại giao Bắc-kinh đã lên án là Việt-nam Cộng-hòa "giờ đây còn trắng trợn khiêu khích Trung-quốc về quân sự và chiếm lãnh thổ của Trung-quốc bằng võ lực. Đó là điều táo gan đến cùng cực."
Nói cách khác, bản tuyên bố này cố vẽ một Việt-nam Cộng-hòa hiếu chiến, đã có những hành động gây hấn trước và một Trung-Cộng hiếu hòa, chỉ ra tay hành động khi không thể chịu đựng sự khiêu khích và xâm lăng của Việt-nam Cộng-hòa được nữa. Mục đích của lời vu cáo này hiển nhiên là nhằm vào dư luận thế giới nói chung và Hoa-kỳ nói riêng, hầu chặn trước không cho một nước nào phản đối việc Trung-Cộng đã vi phạm Hiến chương Liên-hiệp-quốc, mà Trung-Cộng là một hội viên trước đó ba năm, bằng việc cưỡng chiếm quần đảo Hoàng-sa. Thực vậy, bản tuyên bố đã nói:
"Đồng thời với việc xâm nhập võ trang vào lãnh thổ Trung-quốc, nhà cầm quyền Sài-gòn lại còn dùng đến chiến thuật 'kẻ có tội đâm đơn kiện trước,' bịa đặt là Trung-quốc 'đột nhiên thách thức' chủ quyền của chúng trên quần đảo Tây-sa nhằm cố gắng làm rối loạn dư luận quần chúng và lại còn khẳng định là Sài-gòn hoàn toàn có chủ quyền trên quần đảo Tây-sa và không một quốc gia nào tham dự Hội nghị Cựu-kim-sơn năm 1951 lại phản đối việc chúng đòi chủ quyền."
Về điểm này Trung-Cộng đã thành công. Không một nước nào trong Liên-hiệp-quốc lên tiếng cả, kể cả nước đồng minh số 1 của Việt-nam Cộng-hòa là Hoa-kỳ lẫn nước đã từng cai trị Việt-nam hơn 80 năm và lúc nào cũng muốn chiếm lại Việt-nam là Pháp.
Tới đây Bộ Ngoại giao Bắc-kinh một lần nữa lại nhắc lại lời tuyên bố cố hữu là: "Như mọi người đều biết, quần đảo Tây-sa cũng như các quần đảo Nam-sa, Trung-sa và Đông-sa luôn luôn là lãnh thổ của Trung-quốc."
Điểm đáng nói ở đây là sau khi tuyên bố chủ quyền này là "một sự thực bất khả tranh nghị", bản tuyên bố của Bắc-kinh đã gài thêm câu "mọi người Trung-quốc đều chủ trương như vậy."
Câu này nhằm chặn họng trước Trung-hoa Dân-quốc để đề phòng trường hợp chính phủ Quốc-dân Đảng của Tưởng Giới-thạch ở Đài-loan, vì nhu cầu muốn duy trì sự giao hảo với Việt-nam Cộng-hòa vào lúc các quốc gia khác đã dần dần bỏ rơi mình sau khi mất ghế hội viên sáng lập Liên-hiệp-quốc do việc Trung-Cộng được gia nhập Liên-hiệp-quốc năm 1971 và đang được Hoa-kỳ o bế, và vì vốn có cừu hận là bị Trung-Cộng đánh thua ở Hoa-lục đến phải chạy sang Đài-loan nên coi bất cứ việc gì Trung-Cộng làm cũng là trái với quyền lợi của Trung-quốc, quay ra chống đối hành động cưỡng chiếm Hoàng-sa của Trung-Cộng, khiến cho Đài-loan không thể làm gì khác được. Hơn nữa, câu này còn có ý thách thức Đài-loan xem có dám đi ngược lại với quyền lợi của Trung-quốc không.
Về điểm này Trung-Cộng cũng đã thành công. Đài-loan không những đã phụ họa với Trung-Cộng trong việc đòi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa mà lại còn phái thêm quân đến chiếm đóng vài hòn đảo thuộc quần đảo Trường-sa của Việt-nam Cộng-hòa để sẵn sàng chống lại khi cần.
Mặt khác, trái với các tuyên bố trước đây chỉ đề cập tới việc quần đảo Hoàng-sa (và cả Trường-sa) bị Nhật-bản chiếm đóng trong thời Thế Chiến thứ II mà Chính phủ Trung-hoa Dân-quốc đã thu hồi lại, lần này bản tuyên bố ngày 20.1.1974 đưa ra một chi tiết tuy không mới lạ đối với Việt-nam nhưng lại mới đối với các người ngoại cuộc: đó là việc Pháp chiếm đóng quần đảo Hoàng-sa.
"Mặc dù vài hòn đảo thuộc quần đảo Tây-sa có một thời kỳ trước Thế Chiến thứ II đã bị Pháp chiếm đóng và sau đó đến lượt Nhật-bản, nhưng sau Thế Chiến, quần đảo Tây-sa cũng như các đảo khác trong Nam-hải đã được Chính phủ Trung-quốc lúc bấy giờ chính thức thu hồi."
Chúng ta tự hỏi tại sao Trung-Cộng lần này lại đề cập tới việc Pháp chiếm đóng quần đảo Hoàng-sa? Câu hỏi này thật khó trả lời.
Nếu bảo rằng đó chỉ là để đáp lại lời tuyên bố của Việt-nam Cộng-hòa hai ngày 12.1.1974 và 16.1.1974 trong đó đã nêu việc trong thời gian Việt-nam bị Pháp đô hộ "nhân danh vương quốc Việt-nam Chánh phủ Pháp đã thực hiện việc chiếm cứ chính thức đảo Hoàng-sa"(58) và đặt "quần đảo Hoàng-sa thành đơn vị hành chánh sáp nhập vào tỉnh Thừa-thiên" cùng "thiết lập hai đơn vị hành chánh tại quần đảo Hoàng-sa là đơn vị Croissant và đơn vị Amphytrite"(59) để chứng minh chủ quyền của Việt-nam trên quần đảo, thì lập luận này không đúng.
Tại sao? Đây không phải là lần đầu tiên Việt-nam Cộng-hòa đã đưa ra bằng chứng này. Thực vậy, suốt từ khi có Hòa hội Cựu-kim-sơn năm 1951, và nhất là từ năm 1956, trở đi, Việt-nam Cộng-hòa đã nhiều lần nhắc tới việc Pháp đã nhân danh Việt-nam chiếm hữu hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa để chứng minh chủ quyền của mình. Lại nữa, trong vụ Phi-luật-tân đòi chủ quyền trên quần đảo Trường-sa năm 1971 (đã nói ở phần III bên trên), Xử lý Thường vụ Toà Đại sứ Pháp tại thủ đô Manila của Phi-luật-tân ngày 9.6.1956 đã thông báo cho Bộ Ngoại giao nước này hay về việc Pháp chiếm hữu hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa(60). Như vậy không phải là Trung-Cộng không biết đến việc Pháp chiếm hữu hai quần đảo đương tranh.
Câu hỏi là tại sao trong mọi lần trước Trung-Cộng không đả động gì đến sự kiện này mà nay lại nhắc tới? Phải chăng đó là vì Trung-Cộng muốn leo thang việc chứng minh chủ quyền của Trung-quốc trên quần đảo đương tranh có từ trước Thế Chiến thứ II nhưng đã bị Pháp chiếm mất? Không chắc như vậy. Một luận cứ kiểu này không thể nào đánh đổ được luận cứ của Việt-nam Cộng-hòa về tính cách hợp pháp của chủ quyền của Việt-nam Cộng-hòa trên quần đảo này cũng như trên quần đảo Trường-sa, và cũng không thể nào chứng minh được chủ quyền của Trung-Cộng. Vả lại, nếu đúng vì mục đích này thì tại sao trong các lần tuyên bố trước nhà cầm quyền Trung-Cộng không hề nêu ra yếu tố Pháp trong việc chiếm đóng Hoàng-sa và Trường-sa, mà chỉ nói tới yếu tố Nhật-bản thôi?
Hay là vì những lần trước Trung-Cộng đã không biết đến yếu tố Pháp này? Càng không đúng nữa. Các tuyên bố của Việt-nam Cộng Hòa về vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa từ 1951 đến nay luôn luôn đề cập tới yếu tố này. Chắc chắn Trung-Cộng đã nghiên cứu kỹ lưỡng các tuyên bố của Việt-nam Cộng-hòa. Do đó không có lý do gì để tin được là Trung-Cộng đã không biết đến yếu tố này.
Cũng không thể cho rằng Trung-Cộng đã coi thường yếu tố Pháp này. Không một nhà hoạch định chính sách của một quốc gia nào có thể và có quyền coi thường bất cứ một chi tiết nào, dù là cỏn con, để có ảnh hưởng tai hại cho quốc gia. Điều này lại càng đúng hơn nữa đối với Cộng sản nói chung và Trung-Cộng nói riêng, vốn có thói quen "cái tóc chẻ tư" trong việc nghiên cứu bất cứ vấn đề nào.
Mặt khác, trong bản tuyên bố ngày 20.1.1974 này Trung-Cộng đã chú trọng đến bản chất và giá trị cái mà họ gọi là sự thu hồi hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa của Chính phủ Trung-quốc sau khi Thế Chiến thứ II chấm dứt (lúc đó là Chính phủ Quốc-dân đảng của Tưởng Giới-thạch). Các bản tuyên bố trước chỉ nói là "chính phủ Trung-quốc lúc bấy giờ đã thu hồi" hai quần đảo thôi. Lần này bản tuyên bố đi xa hơn bằng cách thêm cụm từ "chính thức" để làm nổi bật giá trị hành vi đánh chiếm Hoàng-sa của Trung-quốc và đồng thời để biện minh sự đòi hỏi chủ quyền của Trung-Cộng.
Hơn nữa, sau khi lập lại lời tuyên bố ngày 15.8.1951 của Châu Ân-lai như mọi lần trước, bản tuyên bố ngày 20.1.1974, để biện hộ cho việc cưỡng chiếm quần đảo Hoàng-sa của mình, đã viện dẫn đến chiêu bài là:
"Trung-quốc là một quốc gia xã hội chủ nghĩa. Chúng tôi không bao giờ chiếm đóng lãnh thổ của nước khác, nhưng chúng tôi cũng sẽ không để cho các nước khác chiếm đóng lãnh thổ của chúng tôi."
Ngoài ra, làm như có sự đồng nhất quan niệm và chính sách của nhà cầm quyền Tử Cấm Thành và nhân dân Trung-quốc trong mọi việc, bản tuyên bố này còn gài thêm một câu là:
"Để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Trung-quốc, Chính phủ và nhân dân Trung-quốc có quyền làm mọi hành vi cần thiết để tự vệ."
Trước đây các lãnh tụ Trung-Cộng chỉ nói đến chính phủ không thôi. Từ bản tuyên bố này trở đi nhân dân Trung-quốc được chính quyền Bắc-kinh đoái hoài trong vụ tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa.
Sau hết, bản tuyên bố ngày 20.1.1974 lại một lần nữa đã cố tô vẽ một Việt-nam Cộng-hòa hiếu chiến dám chống đối một lân bang khổng lồ bằng cách đòi "Nhà cầm quyền Sài-gòn phải ngưng ngay lập tức mọi khiêu khích quân sự chống Trung-quốc" với mục đích chứng minh cho thế giới biết rằng chỉ có Trung-Cộng mới hiếu hòa thôi. Bản tuyên bố kết thúc bằng một sự đe dọa quen thuộc: "Nếu không, họ sẽ phải chịu mọi hậu quả do các hoạt động này gây nên."
3. Bài Tường Thuật Nội Vụ Trận Hải Chiến Tại Hoàng-sa
Cùng với bản tuyên bố ngày 20.1.1974 trên, guồng máy tuyên truyền Bắc-kinh đã cho phổ biến một bài tường thuật nội vụ cuộc hải chiến, nhan đề "Saigon Authorities Invade China's Hsisha Islands and Provoke Armed Conflicts"(61).
Bài tường thuật này bổ túc bản tuyên bố nói trên. Nó đã xuyên tạc mọi chi tiết, bóp méo hay thổi phồng các dữ kiện hay sự kiện trong một mục đích chung là tô vẽ hai hình ảnh.
Một hình ảnh là Việt-nam Cộng-hòa hiếu chiến đã "trắng trợn xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Trung-quốc cùng là điên cuồng khiêu khích nhân dân Trung-quốc", với những hành động nào là "mặt dạn mày dày phái chiến thuyền và phi cơ xâm nhập lãnh hải và lãnh không của Trung-quốc ở chung quanh và phía trên quần đảo Tây-sa, cưỡng chiếm quần đảo của Trung-quốc và nổ súng bắn vào các ngư dân Trung-quốc đang làm công tác sản-xuất và vào hải hạm Trung-quốc đang đi tuần tiễu theo thường lệ", nào là "khuấy rối và phá hoại ngư thuyền Trung-quốc ... đang làm công tác sản xuất ở gần đảo Cam-tuyền, bắn lên đảo có treo quốc kỳ của nước Cộng-hòa Nhân-dân Trung-hoa và vô lý ép ngư thuyền Trung-quốc phải rời hải vực của mình", nào là "chiếm đảo Cam-tuyền và om sòm hạ quốc kỳ của Trung-quốc ở đó", nào là "đâm vào các ngư thuyền Trung-quốc một cách tàn bạo và vô lý", nào là "tiếp tục gia tăng khiêu khích và không thèm để ý đến những lời cảnh cáo liên tiếp của Trung-quốc", nào là "bắn chết và gây trọng thương cho một số [ngư dân Trung-quốc]", nào là "dội bom san bằng đảo", v.v.
Hình ảnh khác là một Trung-Cộng hiếu hòa, với những hành động như là "đấu tranh chính đáng bằng cách lý luận với họ [tức là quân sĩ Việt-nam Cộng- hòa] và yêu cầu họ rời khỏi lãnh thổ của Trung-quốc", rồi chỉ chống trả lại khi "bị dồn ép đến quá mức chịu đựng" và "để tự vệ".
Bài tường thuật còn nhắc lại lời vu cáo là "Nhà cầm quyền Sài-gòn ở Nam-Việt đã từ lâu nuôi ý đồ thôn tính các hòn đảo của Trung-quốc ở Nam-hải và đã chiếm đóng một cách bất hợp pháp một vài hòn đảo thuộc quần đảo Nam-sa và Tây-sa của Trung-quốc" và bản tuyên bố ngày 11.1.1974 của phát ngôn viên bộ Ngoại-giao Trung-Cộng đã "nghiêm khắc lên án sự xâm lấn vô luân của nhà cầm quyền Sài-gòn vào sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Trung-quốc và tái khẳng định là Trung-quốc có chủ quyền bất khả tranh nghị trên các quần đảo Nam-sa, Tây-sa, Trung-sa và Đông-sa." Tuy nhiên, bài tường thuật tiếp, "dù chính phủ Trung-quốc đã liên tiếp cảnh cáo, chúng [tức là Việt-nam Cộng-hòa] vẫn phái quân lực tới lấn chiếm lãnh thổ Trung-quốc và gây chiến ... khiến cho nhân dân Trung-quốc hết sức phẫn nộ." Bài tường thuật kết thúc bằng câu đe dọa "Nếu nhà cầm quyền Sài-gòn nhất quyết cố ý hành động như vậy, không chịu ngưng ngay việc lấn chiếm lãnh thổ của Trung-quốc thì nhất định chúng sẽ phải ăn trái đắng của chính chúng."
4. Tuyên Bố Ngày 4.2.1974
Để đề phòng mọi bất trắc có thể xảy ra, ngày 1.2.1974 Chính phủ Việt-nam Cộng Hòa đã phái một đội đặc nhiệm hải quân tới tăng viện phòng thủ năm đảo thuộc quần đảo Trường-sa và dựng bia chủ quyền tại đây. Vì thế, ngày 4.2.1974, Bộ Ngoại giao Trung-Cộng lại ra một bản tuyên bố(62) tố cáo hành động này, coi là "một sự xâm lấn điên cuồng đến sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Trung-quốc và một khiêu khích quân sự mới chống lại nhân dân Trung-quốc" do đó "Chính phủ và nhân dân Trung-quốc cực lực lên án và phản đối [hành động này]."
Hơn nữa, bản tuyên bố còn nói rằng:
"Chính phủ Trung-quốc đã nhiều lần tuyên bố là các quần đảo Nam-sa, Tây-sa, Trung-sa và Đông-sa tất cả đều là phần lãnh thổ của Trung-quốc và nước Cộng-hòa Nhân-dân Trung-hoa có chủ quyền bất khả tranh nghị đối với các quần đảo này và các hải khu chung quanh các quần đảo đó."
Đoạn bản tuyên bố kết thúc bằng lời tuyên bố cố hữu là:
"Chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung-hoa nhất quyết không để cho nhà cầm quyền Sài-gòn xâm lấn vào sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Trung-quốc vì bất cứ lý do gì. Lập trường này của Chính phủ Trung-quốc cương quyết không thể lay chuyển được."
Tuy bản tuyên bố vẫn mang những vu cáo quen thuộc và những luận điệu cũ rích nhưng nó cũng có một điểm mới đáng nói. Đó là đã nới rộng phạm vi tranh chấp chủ quyền.
Trong những lần tuyên bố trước, Trung-Cộng chỉ nói rằng các quần đảo Tây-sa, Nam-sa, Trung-sa và Đông-sa là phần lãnh thổ của Trung-quốc mà Trung-quốc có chủ quyền bất khả tranh nghị (có khi lại nói là chủ quyền bất khả xâm phạm) không thôi. Lần này, bản tuyên bố ngày 4.2.1974 còn nới rộng thêm ra và cho rằng cả các hải khu chung quanh các quần đảo đó cũng thuộc chủ quyền của Trung-quốc.
Như đã nói ở một đoạn bên trên, lý do sự tranh chấp chủ quyền trên các quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa (và cả Trung-sa lẫn Đông-sa nữa) là các túi dầu ở đây. Lý do này một lần nữa được Trung-Cộng để lộ cho thấy, dù chỉ là gián tiếp, trong bản tuyên-bố ngày 4.2.1974 này, khi Bắc-kinh còn đòi thêm cả chủ quyền ở các vùng biển chung quanh các quần đảo, nơi gần đây người ta tìm thấy có những túi dầu quan trọng.
B. Phản Ứng của Đài-loan
Về phần Đài-loan, chính phủ của Tưởng Giới-thạch đã nhiều lần lên tiếng về vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa trong thời gian có trận hải chiến ngày 19 và 20.1.1974. Trong số những tuyên bố này, có hai tuyên bố đáng cho chúng ta xét ở đây.
1. Tuyên Bố của Bộ Ngoại Giao Đài-bắc Ngày 7.2.1974
Ba tuần sau khi xảy ra trận hải chiến giữa Việt-nam Cộng-hòa và Trung-Cộng tại quần đảo Hoàng-sa, ngày 7.2.1974 Bộ Ngoại giao Đài-bắc mới ra một tuyên bố chính thức như sau:
"Gần đây Chính-phủ Việt-nam Cộng-hòa tuyên bố chủ quyền trên quần đảo Nam-sa (Spratly). Đối với lời tuyên bố này, Chính-phủ Trung-hoa Dân-quốc đã cực lực phản kháng với Chính phủ Việt-nam và tái khẳng định lập trường là quần đảo này là phần lãnh thổ cố hữu của Trung-hoa Dân-quốc và không ai có thể nghi ngờ chủ quyền của Trung-hoa Dân-quốc đối với quần đảo này.
"Quần đảo này đã bị Nhật-bản chiếm đóng trong trận Thế Chiến thứ II và được qui hoàn Trung-hoa Dân-quốc khi, sau chiến tranh, vào tháng 12 năm 1946, Chính phủ Trung-hoa đã phái một hải đội tới thu hồi khỏi tay Nhật bản. Từ đó trú quân thường trực Trung-hoa đã tới đóng nơi đây. Hơn nữa, ngày 1.12.1947, Chính phủ Trung-hoa Dân-quốc đã loan báo cùng thế giới tên tiêu chuẩn của các hòn đảo, cù lao, ám tiêu, thiển than trong quần đảo.
"Những đảo này, tạo thành phần hoàn chỉnh lãnh thổ Trung-quốc, là một sự thực bất khả tranh nghị. Chính phủ Trung-hoa Dân-quốc vì vậy cương quyết tái khẳng định chủ quyền của Trung-quốc trên quần đảo Nam-sa. Lập trường này không thể bị bất cứ nước nào thay đổi bằng bất cứ biện pháp nào."(63)
Về tuyên bố của Bộ Ngoại Giao Đài-bắc chúng ta có mấy nhận xét sau:
Thứ nhất, bản tuyên bố đã đề cập tới việc hải quân Trung-quốc tới thu hồi quần đảo Trường-sa khỏi tay Nhật-bản vào tháng 12 năm 1946 và từ đó có quân trú đóng tại đây.
Trong phần II bên trên chúng tôi đã trình bày tính cách bất hợp pháp của sự tiếp thu quần đảo Trường-sa do hải quân Trung-hoa Dân-quốc thực hiện nên không cần nhắc lại ở đây. Vì hành vi tiếp thu Trường-sa bất hợp pháp nên luận cứ này của Đài-loan không có giá trị nữa.
Thứ hai, ngày 1.12.1947 Chính phủ Đài-loan đã thông tri cho thế giới hay việc đặt tên tiêu chuẩn cho các hòn đảo, cù lao, ám tiêu, thiển than trong quần đảo Trường-sa.
Vấn đề đặt ra là việc đặt tên đó có phải là yếu tố cần thiết không có không được để chứng minh quần đảo Trường-sa thuộc Trung-quốc hay không.
Đứng về phương diện thực tế, việc đặt tên cho một vật gì chẳng qua chỉ là để cho người khác hiểu được người nói muốn ám chỉ, đề cập tới vật đó thôi. Nó không có tính cách bắt buộc. Đứng về mặt pháp lý cũng vậy, việc một người hay một quốc gia đặt tên cho một vật gì không có nghĩa là vật đó đương nhiên thuộc quyền sở hữu hay thuộc chủ quyền của người hay quốc gia đặt tên cho nó. Nếu không thì bất cứ một người hay quốc gia nào cũng có thể đặt tên cho một vật rồi chiếm ngay lấy vật đó làm vật sở thuộc của mình. Giả thử nếu Việt nam đặt một tên tiêu chuẩn cho đảo Đài-loan rồi tuyên bố cùng thế giới hay rằng Đài-loan thuộc chủ quyền của Việt-nam thì chính phủ Đài-loan sẽ nghĩ sao? Nếu Hoa-kỳ, Nga, Anh, Pháp, v.v., mỗi nước cũng đặt cho Đài-loan một tên rồi bảo nó thuộc chủ quyền của mình, như vậy có được không?
Vì lý do này, luận cứ thứ 2 của Đài-loan không đứng vững và không có giá trị.
Thứ ba, căn cứ vào hai sự kiện nêu trên (tiếp thu và đặt tên), Đài-loan tuyên bố rằng quần đảo Trường-sa là một phần lãnh thổ của Trung-hoa Dân-quốc và sự thực này bất khả tranh nghị.
Chúng ta thấy điều tuyên bố này không có gì mới lạ. Nó chỉ là nhắc lại những lời tuyên bố của Trung-Cộng từ trước tới nay. Cũng giống trường hợp các tuyên bố của Trung-Cộng, nó thiếu sót các chứng liệu để chứng tỏ rằng chủ quyền của Trung-quốc đối với hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa là bất khả tranh nghị. Sự thiếu sót này làm cho luận cứ của Đài-loan, cũng như của Trung-Cộng, không có giá trị về thực tế cũng như về pháp lý.
2. Tuyên Bố của Tưởng Kinh-quốc Ngày 24.2.1974
Mười bảy ngày sau khi Bộ Ngoại giao Đài-bắc ra bản tuyên bố nói trên, Tưởng Kinh-quốc, con trai của Tưởng Giới-thạch và lúc đó đang giữ chức Hành- chính viện Viện trưởng (tức Thủ tướng Chính phủ), trong một cuộc phỏng vấn dành cho ký giả Roy Rowan của tạp chí Time ngày 24.2.1974 tại Đài-bắc cũng đã đề cập tới vấn đề Hoàng-sa và Trường-sa như sau(64):
“HỎI: Xin Thủ tướng cho rõ quan điểm của ngài về vụ tranh chấp đối với hai nhóm quần đảo Paracel và Spratly. Liệu quí quốc có phòng vệ đội trú quân đóng ở quần đảo Spratly của quí quốc khi bị tấn công không?
“ĐÁP: Chúng ta cần phải duyệt lại lịch sử các quần đảo này. Cách đây nhiều năm, Chính phủ chúng tôi đã duy trì một lực lượng tại quần đảo Paracel. Lực lượng này chỉ là một phần của hệ thống phòng thủ đảo Hải-nam. Việc chúng tôi rút các lực lượng đó đi không có nghĩa là chúng tôi từ bỏ chủ quyền của chúng tôi trên quần đảo Paracel. Việc này chẳng qua cũng giống như việc chúng tôi từ bỏ chủ quyền của chúng tôi trên đảo Hải-nam. Quần đảo Spratly được qui hoàn Trung-hoa Dân-quốc đồng thời với việc quang phục Đài-loan khỏi tay Nhật-bản. Từ nhiều năm rồi binh sĩ của chúng tôi đã trú đóng ở trên hòn đảo chính của nhóm Spratly. Chúng tôi cuơng quyết làm những gì có thể được để phòng vệ quần đảo này. Tôi thấy cần phải nói rõ là quân đội của chúng tôi có bổn phận phòng vệ lãnh thổ ủy thác cho họ.
“HỎI: Liệu có thể có việc Trung-Cộng tấn công nhóm Spratly không?
“ĐÁP: Vì Cộng sản có thể tính toán lầm nên chúng tôi không thể gạt bỏ việc đó được.”
Có bốn điểm đáng nói trong các câu trả lời của Tưởng Kinh-quốc:
Thứ nhất, Tưởng Kinh-quốc làm như hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa đương nhiên thuộc về Trung-quốc rồi nên không đưa ra một bằng chứng nào để chứng minh chủ quyền thuộc về Trung-quốc. Cũng vì thế tuy ông ta nói là "Chúng ta cần phải duyệt lại lịch sử các quần-đảo này", nhưng nói xong bỏ đấy, ông không đề cập tới lịch sử ấy mà chỉ nói về sự từ bỏ chủ quyền trên Hoàng-sa và việc thu hồi cùng bảo vệ Trường-sa. Do đó, những ai muốn tìm hiểu xem vì lý do nào và căn cứ vào đâu mà Đài-loan nhận có chủ quyền trên hai quần đảo này không cách nào biết được.
Thứ hai, việc Trung-hoa Dân-quốc duy trì một lực lượng tại quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa mà Tưởng Kinh-quốc nói ở đây chính là việc mà Bành Phẩm-quang tường thuật trong một bài báo chúng ta đã xem qua trong phần II. Chỉ có một chi tiết mới là, theo Tưởng Kinh-quốc, lực lượng trú đóng ở Hoàng-sa là một phần của hệ thống phòng thủ đảo Hải-nam của Trung-quốc (hiểu là Trung-hoa Dân- quốc, tức Đài-loan, chứ không phải Cộng-hòa Nhân-dân Trung-hoa hay Trung-Cộng).
Thứ ba, cũng vì lý do này, theo Tưởng Kinh-quốc, việc Đài-loan từ bỏ chủ quyền đối với quần đảo Hoàng-sa cho Trung-Cộng cũng giống việc từ bỏ chủ quyền đối với đảo Hải-nam (Tưởng Kinh-quốc có ý nói đến việc Trung-hoa Dân- quốc, hay, nói cho đúng hơn, Quốc-dân đảng Trung-quốc, đã bị Đảng Cộng-sản Trung-quốc đánh bại năm 1949 phải bỏ Hoa-lục, kể cả đảo Hải-nam, chạy sang Đài-loan). Nó không có nghĩa là Đài-loan từ bỏ chủ quyền trên quần đảo này. Nói một cách khác, Tưởng Kinh-quốc có ý nói là dù cho quần đảo Hoàng-sa có rơi vào tay Trung-Cộng thì nó vẫn còn thuộc chủ quyền của Trung-quốc, chứ không phải là của nước khác, không đi đến đâu mà thiệt.
Thứ tư, tuy đề cập tới việc quần đảo Trường-sa qui hoàn Trung-hoa Dân- quốc và việc phòng thủ Trưòng-sa, nhưng ông không đưa thêm chi tiết gì mới lạ. Có lẽ ông không biết, hay biết mà lờ không nói, đến tính cách bất hợp pháp của cái mà ông gọi là "qui hoàn" này.
|
Bookmark bài viết này: 
| |